vanban.org

Bản án 02/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy Vi.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy V được ly hôn với ông Nguyễn Nhân Q. Về con chung: Ông Nguyễn Nhân Q và bà Nguyễn Thị Thùy V có 01 người con chung là cháu Nguyễn Ngọc Mai Ch – sinh ngày 18/12/2020. Giao cho bà Nguyễn Thị Thùy V có quyền và nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy Vi.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12-01-2024.
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ – TỈNH ĐỒNG NAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và bà Trần Thị Yến Nhi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Năng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 505/2023/TLST-HNGĐ ngày 23/10/2023 về việc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/12/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy V - sinh năm: 1995.

Địa chỉ: Tổ 5, ấp Ng L, xã Ph Th, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Nhân Q – sinh năm: 1989.

Địa chỉ: Số 4, ấp Ph H, xã Ph B, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

(Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn, lời khai trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy V trình bày:

Bà và ông Nguyễn Nhân Q tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Ph B, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/5/2020.

Trong cuộc sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc, ông Q xúc phạm gia đình bà dẫn đến vợ chồng xảy ra cãi vã nhau rồi ông Q đánh đập bà. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2022 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc nhau mỗi người có một cuộc sống riêng. Vì tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q.

Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là cháu Nguyễn Ngọc Mai Ch – sinh ngày 18/12/2020, hiện nay đang ở với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu nuôi dưỡng cháu Ch và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung. Bà làm nhân viên thu nhập 12.000.000 đồng/tháng đủ để lo cho cuộc sống 02 mẹ con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời bị đơn ông Nguyễn Nhân Q trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Thùy V tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Ph B, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/5/2020.

Trong cuộc sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc, ông đi làm kiếm tiền cho gia đình thì bà V cũng bỏ đi chơi không chăm lo cho cuộc sống gia đình dẫn đến vợ chồng xảy ra cãi vã nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11/2022 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc nhau mỗi người có một cuộc sống riêng. Ông xác định tình cảm dành cho bà V không còn nên ông đồng ý ly hôn với bà V.

Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là cháu Nguyễn Ngọc Mai Ch – sinh ngày 18/12/2020. Khi ly hôn, ông đồng ý giao cháu Ch cho bà V nuôi dưỡng và ông không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Thư ký, các đương sự đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thùy V là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà V.

Về hôn nhân: Bà V được ly hôn với ông Q.

Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Thùy V trực tiếp nuôi dưỡng 01 người con chung cháu Nguyễn Ngọc Mai Ch – sinh ngày 18/12/2020. Ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Ch không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thùy V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Nguyễn Nhân Q hiện nay đang cư trú tại ấp Ph H, xã Ph B, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thùy V khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Nhân Q và yêu cầu nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Mai Ch – sinh ngày 18/12/2020 nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xác định tư cách đương sự: Bà Nguyễn Thị Thùy V là nguyên đơn và ông Nguyễn Nhân Q là bị đơn theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.4] Tống đạt văn bản tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án. Về tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đương sự không có ý kiến gì. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về quan hệ hôn nhân:

Ông Nguyễn Nhân Q và bà Nguyễn Thị Thùy V kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã Ph B, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/5/2020, theo quy định của pháp luật đây là hôn nhân hợp pháp.

Tại biên bản lấy lời khai của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện: Bà V yêu cầu được ly hôn với ông Q vì tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng xảy ra cãi vã nhau và đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, mạnh ai người đó sống, không quan tâm chăm sóc gì đến nhau. Ông Nguyễn Nhân Q xác định tình cảm vợ chồng không còn do đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay nên đồng ý ly hôn với bà V.

Xét thấy: Hôn nhân của bà V và ông Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà V là có cơ sở.

Về con chung: Ông Nguyễn Nhân Q và bà Nguyễn Thị Thùy V có 01 người con chung là cháu Nguyễn Ngọc Mai Ch – sinh ngày 18/12/2020. Xét thấy: Cháu Ch còn nhỏ, hiện đang sống với bà V được bà V chăm sóc, nuôi dưỡng tốt và bà V có nguyện vọng nuôi dưỡng khi ly hôn ông Q đồng ý giao cháu Ch cho bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cũng như sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần cho con nên căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Chi cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà V không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thùy V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ như trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận toàn bộ ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy Vi.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy V được ly hôn với ông Nguyễn Nhân Q.

2. Về con chung: Ông Nguyễn Nhân Q và bà Nguyễn Thị Thùy V có 01 người con chung là cháu Nguyễn Ngọc Mai Ch – sinh ngày 18/12/2020. Giao cho bà Nguyễn Thị Thùy V có quyền và nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 người con chung là cháu Nguyễn Ngọc Mai Ch. Ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Vi không yêu cầu.

Ông Nguyễn Nhân Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thùy V phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0001411 ngày 02/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Bà V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ