vanban.org

Bản án 02/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị B ly hôn với ông Lê Minh U. Về con chung: Giao Lê Huyền T (giới tính nữ), sinh ngày 10/3/2010 và Lê Thái T (giới tính nam), sinh ngày 06/5/2017 cho bà Nguyễn Thị B tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị B về việc không yêu cầu …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị B - Lê Minh U"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 01 - 2024
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đoàn Thị Sim.

Ông Trần Hoàng Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Nguyên - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 305/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 605/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1987 (xin vắng mặt).

Địa chỉ thường trú: Ấp V, xã P, huyện P, tỉnh C.

Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã H, huyện C, tỉnh C ..

Bị đơn: Ông Lê Minh U, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp V, xã P, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 11/8/2023, cùng các văn bản kèm theo bà Nguyễn Thị B trình bày:

Về hôn nhân: Năm 2009, bà và ông Lê Minh U thành hôn và chung sống với nhau như vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh C ngày 26/02/2009. Trong thời gian chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cải, nguyên nhân do ông Lê Minh U thường xuyên chơi bời, nhậu nhẹt, không lo làm ăn cũng như chăm lo gia đình. Bà và ông Lê Minh U đã không còn sống chung với nhau từ cuối năm 2020. Bà xác định là bà không còn tình cảm dành cho ông Lê Minh U. Do mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không còn hạnh phúc nên bà không thể đoàn tụ gia đình với ông Lê Minh U, nay bà cương quyết ly hôn với ông Lê Minh U và yêu cầu Tòa án xét xử cho bà ly hôn ông Lê Minh U.

Về con chung: Có hai người tên là Lê Huyền T (giới tính nữ), sinh ngày 10/3/2010 và Lê Thái T (giới tính nam), sinh ngày 06/5/2017. Hiện tại cả hai người con chung đang do bà nuôi dưỡng. Bà yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cả hai người con chung, bà không yêu cầu ông Lê Minh U cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do công việc làm ăn xa nên việc đi lại khó khăn, bà Nguyễn Thị B xin vắng mặt tham gia tố tụng và không có ý kiến gì khác.

Ông Lê Minh U đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đồng thời triệu tập xét xử nhiều lần nhưng ông Lê Minh U vẫn không tham gia tố tụng.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, cụ thể về hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho bà Nguyễn Thị B ly hôn với ông Lê Minh U; Về con chung: Có hai người tên là Lê Huyền T (giới tính nữ), sinh ngày 10/3/2010 và Lê Thái T (giới tính nam), sinh ngày 06/5/2017. Hiện tại đang do bà Nguyễn Thị B nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị B yêu cầu nuôi dưỡng cả hai người con chung nên chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị B là phù hợp. Bà Nguyễn Thị B không yêu cầu ông Lê Minh U cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ chung không có, không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ án tranh chấp ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Nguyễn Thị B xin vắng mặt tham gia phiên tòa. Nay căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.

Ông Lê Minh U đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhiều lần, nhưng ông Lê Minh U không cung cấp chứng cứ gì, ông Lê Minh U vắng mặt không có lý do. Nay căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.

[2] Về hôn nhân: Năm 2009, bà Nguyễn Thị B và ông Lê Minh U chung sống với nhau như vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cuộc sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm thường xuyên tranh cải. Bà Nguyễn Thị B xác định không còn tình cảm dành cho ông Lê Minh U và bà Nguyễn Thị B cương quyết ly hôn. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị B và ông Lê Minh U không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được. Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị B và ông Lê Minh U đã và đang trong tình trạng trầm trọng. Ông Lê Minh U đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng, cho thấy ông Lê Minh U không mong muốn hàn gắn đoàn tụ gia đình. Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị B, ông Lê Minh U không có ý kiến gì. Xét cho bà Nguyễn Thị B ly hôn với ông Lê Minh U là có cơ sở.

[3] Về con chung: Có hai người tên là Lê Huyền T (giới tính nữ), sinh ngày 10/3/2010 và Lê Thái T (giới tính nam), sinh ngày 06/5/2017. Hiện tại cả hai người con chung đang do bà Nguyễn Thị B nuôi dưỡng. Mặc khác cháu Lê Huyền T có nguyện vọng sống cùng với bà Nguyễn Thị B nên chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị B là phù hợp. Bà Nguyễn Thị B không yêu cầu ông Lê Minh U cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung: Không có, nên không đặt ra xem xét.

[5] Về nợ chung: Không có, nên không đặt ra xem xét.

[6] Từ những phân tích và nhận định nêu trên xét thấy quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung là có căn cứ nên được chấp nhận.

[7] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị B phải chịu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị B ly hôn với ông Lê Minh U.

2. Về con chung: Giao Lê Huyền T (giới tính nữ), sinh ngày 10/3/2010 và Lê Thái T (giới tính nam), sinh ngày 06/5/2017 cho bà Nguyễn Thị B tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị B về việc không yêu cầu ông Lê Minh U cấp dưỡng nuôi con.

Ông Lê Minh U có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng. Bà Nguyễn Thị B đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0019173 ngày 29/9/2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, nay chuyển thu.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ