vanban.org

Bản án 02/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Về hôn nhân: Tuyên xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Võ Văn G. Về con chung: Giao con chung là cháu Võ Thị Quỳnh A, sinh ngày 27/01/2018 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỒNG PHÚ
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST
Ngày 23-01-2024
V/v “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Trung Thành

Ông Nguyễn Viết Xứng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Quỳnh Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 305/2023/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/01/2024, giữa:

*Nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1999; Địa chỉ: Đ, ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

*Bị đơn: Võ Văn G, sinh năm 1996; Địa chỉ: Khu V, phường C, quận Ô, Thành phố Cần Thơ.

(Các đương sự xin vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Võ Văn G chung sống với nhau một cách tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ vào năm 2017. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 12/2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có sự cảm thông chia sẻ nên dẫn đến vợ chồng thường hay cãi nhau. Từ tháng 12/2020 cho đến nay, chị T và anh G sống ly thân. Nay, chị T xác định tình cảm giành cho anh G đã hết nên đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Võ Văn G.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Quá trình chung sống, chị T và anh Giàu c 01 con chung là cháu Võ Thị Quỳnh A, sinh ngày 27/01/2018, hiện cháu Quỳnh A đang sống cùng chị T. Khi ly hôn, chị T có yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đối với cháu Quỳnh A và không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị T tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.

*Tại bản tự khai, bị đơn anh Võ Văn G trình bày:

Về hôn nhân: Anh Võ Văn G và chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước vào năm 2017.

Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cuối năm 2017 anh G đi chấp hành án về tội “Cố ý gây thương tích” đến ngày 30/4/2019 anh G chấp hành án xong về nhưng không tìm được công việc ổn định, không có thu nhập nên vợ chồng cãi nhau. Từ cuối năm 2019 đến nay, anh G và chị T sống ly thân. Nay, anh G xác định tình cảm giành cho chị T đã hết nên trước yêu cầu ly hôn của chị T thì anh G cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Quá trình chung sống, anh G và chị T có 01 con chung là cháu Võ Thị Quỳnh A, sinh ngày 27/01/2018, hiện cháu Quỳnh A đang sống cùng chị T. Khi ly hôn, anh G đồng ý giao con chung là cháu Quỳnh A cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đối với cháu Quỳnh A và không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh G tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng và đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (TTDS); bị đơn không thực hiện đúng, đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của của chị Nguyễn Thị T và anh Võ Văn G.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của các bên đương sự, kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn, nuôi con với anh Võ Văn G, các vấn đề khác xác định là không có nên không yêu cầu. Vì vậy, đây là vụ án "Ly hôn, nuôi con" được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị T và anh Giàu có đơn lựa chọn Tòa án nơi cư trú của chị T là Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú để giải quyết vụ án “Ly hôn, nuôi con”; theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã giao Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị T và anh Võ Văn G nhưng cả hai đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét cần áp dụng Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt chị T và anh G.

3.Yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Võ Văn G chung sống với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước (số đăng ký kết hôn 57 ngày 12/9/2017). Xét đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Trong quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân nhau cho đến nay. Nguyên nhân chủ yếu là bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có sự cảm thông, chia sẻ với nhau dẫn đến mâu thuẫn, chị T và anh T1 không tìm được cách giải quyết những mâu thuẫn phát sinh trong cuộc sống hôn nhân nên tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, sống không có hạnh phúc. Từ cuối năm 2019 đến nay cả hai sống ly thân không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, cả hai đều xác định tình cảm giành cho nhau đã hết và đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh G đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 tuyên xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Võ Văn G là phù hợp.

Về con chung: Quá trình chung sống, anh G và chị T có 01 con chung là cháu Võ Thị Quỳnh A, sinh ngày 27/01/2018, hiện cháu Quỳnh A đang sống cùng chị T. Chị T có yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đối với cháu Quỳnh A và anh G cũng đồng ý giao con chung là cháu Quỳnh A cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Xét đây là ý chí tự nguyện của chị T và anh G nên cần ghi nhận, mặt khác cháu Quỳnh A còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ. Do vậy, cần áp dụng các điều 82, 83 Luật hôn nhân gia đình giao cháu Võ Thị Quỳnh A cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh G thống nhất tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Các bên phải nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật TTDS và Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Tuyên xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Võ Văn G.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Võ Thị Quỳnh A, sinh ngày 27/01/2018 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền này. Trong thời gian nuôi con, các bên có quyền đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét giải quyết việc cấp dưỡng hoặc việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và các vấn đề khác: Không xem xét giải quyết do không có yêu cầu.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019633 ngày 06/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

5. Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ