vanban.org

Bản án 02/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H Toa Buôn Y.

Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà H Toa Buôn Y và ông Y Yô Han N. 2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao cháu Y Rô Van Buôn Y1, sinh ngày 28/10/2017 và cháu H My Ran Buôn Y2, sinh ngày 12/11/2013 cho bà H Toa Buôn Y chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Vì… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H Toa Buôn Y.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ KUIN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST
Ngày 08-01-2024
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Đoàn

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thế Vinh;

2. Bà Hoàng Thị Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Nhưng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Cư Kuin.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin tham gia phiên tòa: Ông Trần Đình Phương– Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Cư Kuin xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 146/2023/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 10 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà H Toa Buôn Y, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Buôn E, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Ông Y Yô Han N, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Buôn E, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn bà H Toa Buôn Yă trình bày:

Bà H Toa Buôn Y và ông Y Yô Han N có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 02/8/2016 tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại buôn E, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, đến tháng 3 năm 2019 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do cả hai không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau và sống ly thân từ đó cho đến nay. Bà H Toa Buôn Y xác định không còn tình cảm với ông Y Yô Han N và không thể tiếp tục chung sống được nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho Bà được ly hôn với ông Y Yô Han N.

Về con chung: Bà H Toa Buôn Y và ông Y Yô Han N có 02 người con chung là Y Rô Van Buôn Y1, sinh ngày 28/10/2017 và H My Ran Buôn Y2, sinh ngày 12/11/2013. Sau khi ly hôn bà H Toa Buôn Y có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi đủ tuổi thành niên và không yêu cầu ông Y Yô Han N cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Y Yô Han N: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng để cho bị đơn tham gia tố tụng và bảo vệ quyền lợi cho mình, nhưng bị đơn không đến Tòa án để tham gia tố tụng, vắng mặt tại các buổi làm việc ở Tòa án. Sau khi Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử ông Y Yô Han N mới đến Toà án trình bày ý kiến, cụ thể:

Ông Y Yô Han N và bà H Toa Buôn Y tự nguyện đăng ký kết hôn như bà H Toa trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau nên không thể tiếp tục sống chung, giữa hai bên không còn tình cảm yêu thương nên Ông đồng ý ly hôn với bà H Toa Buôn Y.

Về con chung: Ông Y Yô Han N và bà H Toa Buôn Y có 02 người con chung là Y Rô Van Buôn Y1, sinh ngày 28/10/2017 và H My Ran Buôn Y2, sinh ngày 12/11/2013. Ông Y Yô Han N đồng ý giao 02 con chung cho bà H Toa trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Quan hệ pháp luật giải quyết của vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng từ khi khai mạc phiên tòa đến khi kết thúc phần tranh luận.

Về nội dụng: Đề nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H Toa Buôn Y.

- Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa Bà H Toa Buôn Y và ông Y Yô Han N

- Về con chung: Giao cháu Y Rô Van Buôn Y1, sinh ngày 28/10/2017 và cháu H My Ran Buôn Y2, sinh ngày 12/11/2013 cho bà H Toa Buôn Y chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.

- Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đương sự, Viện kiểm sát, HĐXX xét thấy:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Xác định quan hệ pháp luật là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” có bị đơn cư trú tại huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự.

. Về hôn nhân: Bà H Toa Buôn Y và ông Y Yô Han N chung sống với nhau và đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 02/8/2016 tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa nguyên đơn và bị đơn thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3/2019 cho đến nay không còn quan tâm gì đến nhau.

Xét thấy, mâu thuẫn tình cảm của ông bà đã đến lúc trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Các bên đã thuận tình ly hôn việc thỏa thuận của các đương sự không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên HĐXX căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận thuận tình ly hôn giữa bà H Toa Buôn Y và ông Y Yô Han N [3]. Về con chung: Bà H Toa Buôn Y và ông Y Yô Han N có 02 người con chung, là cháu Y Rô Van Buôn Y1, sinh ngày 28/10/2017 và cháu H My Ran Buôn Y2, sinh ngày 12/11/2013, từ trước đến nay đều ở với bà H Toa Buôn Y. Ông bà cũng đều thống nhất giao con chung cho bà H Toa trực tiếp nuôi và chăm sóc sau khi vợ chồng ly hôn. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu Y Rô Van Buôn Y1 và cháu H My Ran Buôn Y2 cho bà H Toa trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi đủ tuổi thành niên là phù hợp.

[[4]. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xử lý.

. Về án phí: Bà H Toa Buôn Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 220, khoản 1 Điều 227, điểm a khoản 1 Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H Toa Buôn Y.

1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà H Toa Buôn Y và ông Y Yô Han N. 2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao cháu Y Rô Van Buôn Y1, sinh ngày 28/10/2017 và cháu H My Ran Buôn Y2, sinh ngày 12/11/2013 cho bà H Toa Buôn Y chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Bà H Toa Buôn Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0017790 ngày 05/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ