vanban.org

Bản án 02/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn của chị Vi Thị P.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị P được ly hôn anh Hoàng Văn S. Về con chung: Chị Vi Thị P là người trực tiếp nuôi con chung là cháu Hoàng Thị Thanh L, sinh ngày 28 tháng 3 năm 2008 cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn S không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Hoàng Văn S có quyề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Vi Thị P - Bị đơn Hoàng Văn S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn của chị Vi Thị P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LỘC
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23-01-2024
V/v Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hứa Văn Nghiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Thu Huyền.

Ông Hứa Văn Trung.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Đình Sắc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đào Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 91/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 76/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vi Thị P, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

Bị đơn: Anh Hoàng Văn S, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn đề ngày 21 tháng 10 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vi Thị P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn S được tự do tìm hiểu nhau, tự nguyện kết hôn và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán địa phương. Ngày 22-02-2008, chị và anh S đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết hôn, tình cảm vợ chồng bình thường. Đến năm 2015, anh S bỏ nhà đi. Đến năm 2023, anh S bỏ nhà đi là đã được 08 năm. Chị và những người thân thích của anh S đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức gì về anh S. Do đó, chị đã có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố anh S mất tích. Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã tuyên bố anh S mất tích tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích số 07/2023/QĐST-VDS ngày 06-9-2023.Do đó, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn S.

Về con chung: Chị và anh Hoàng Văn S có 01 (một) con chung là cháu Hoàng Thị Thanh L, sinh ngày 28-3-2008, hiện con đang ở cùng chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu là người được trực tiếp nuôi con chung. Anh Hoàng Văn S không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung và cho vay chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành xác minh xác định anh Hoàng Văn S có nơi cư trú tại thôn C, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Tuy nhiên, tại thời điểm xác minh, anh Hoàng Văn S không có mặt tại địa phương. Do đó, Toà án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của vụ án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, vẫn không có tin tức của anh S.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn S đã bị Toà án tuyên bố mất tích. Nên có căn cứ giải quyết cho ly hôn. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị giải quyết cho chị Vi Thị P được ly hôn với anh Hoàng Văn S. Về con chung: Để đảm bảo quyền lợi của con, phù hợp với nguyện vọng của con, căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Vi Thị P được quyền nuôi con là cháu Hoàng Thị Thanh L đến khi đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn S không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Tài sản chung: Không có; nợ chung và cho vay chung: Không có, do vậy không đề nghị xem xét giải quyết. Nguyên đơn chị Vi Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Vi Thị P có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn anh Hoàng Văn S cư trú tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Theo quy định của các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Nguyên đơn chị Vi Thị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Hoàng Văn S đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị P và anh Hoàng Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Khi kết hôn đảm bảo các điều kiện về kết hôn và có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 22 tháng 02 năm 2008. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Vi Thị P và anh Hoàng Văn S là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Do quan hệ hôn nhân giữa anh chị Vi Thị P và anh Hoàng Văn S là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị Vi Thị P yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, nên xác định quan hệ tranh chấp là ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo quy định của khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về tình trạng hôn nhân: Sau khi kết hôn, sau một thời gian chung sống, đến năm 2015 anh S bỏ nhà đi. Chị P có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố một người là mất tích đối với anh S. Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã tuyên bố anh S mất tích tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích số 07/2023/QĐST-VDS ngày 06-9-2023 và đã có hiệu lực pháp luật. Theo quy định của khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì có căn cứ chấp nhận yêu cầu được ly hôn với anh Hoàng Văn S của chị Vi Thị P.

Về con chung: Chị Vi Thị P và anh Hoàng Văn S có 01 (một) con chung là cháu Hoàng Thị Thanh L, sinh ngày 28-3-2008, hiện con đang ở cùng chị P. Cháu L có nguyện vọng được ở với chị P. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của con, phù hợp với nguyện vọng của con, Hội đồng xét xử giao con chung cho chị Vi Thị P trực tiếp nuôi.

Về tài sản chung, nợ chung và cho vay chung: Không có. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn chị Vi Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn của chị Vi Thị P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị P được ly hôn anh Hoàng Văn S.

2. Về con chung: Chị Vi Thị P là người trực tiếp nuôi con chung là cháu Hoàng Thị Thanh L, sinh ngày 28 tháng 3 năm 2008 cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn S không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Hoàng Văn S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Vi Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Xác nhận chị Vi Thị P đã nộp đủ số tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000755 ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ