- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp về hợp đồng vay"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 02/2024/DS-ST Ngày: 18-01-2024 V/v Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản |
NHÂN DANH
N C C NG H A X H I CHỦ NGH A VI T NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành ph n i ng t
ơ thẩm g m :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.
Cá
i thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Thiện Bửu;
2. Bà Nguyễn Thị Oanh Kiều.
- Thư phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Loan là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố ng Ngự tham gia phiên tòa: Bà Trương Ngọc Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại trụ s Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, t ử sơ thẩm c ng khai vụ án thụ lý số: 265/2023/TLST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2023, theo Quy t định đưa vụ án ra t ử số: 109/2023/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2023, Th ng báo về việc thay đổi thời gian t ử số: 01/TB-TA ngày 09 tháng 01 năm 2024 và Quy t định hoãn phiên toà số: 03/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, gi a các đương sự:
- Nguyên ơn: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Số A, Trần Hưng Đ, khóm D, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng
Tháp.
Người ại diện theo ủy quyền ủa nguyên ơn: Ông Hồ Thanh H, sinh năm
1983. Địa chỉ số F, đường 30 tháng 4, khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp theo giấy ủy quyền ngày 26/9/2023.
- Bị ơn: Bà Huỳnh Kim H1, sinh năm 1987;
Ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1984.
Cùng địa chỉ: khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
N I DUNG VỤ ÁN:
- Người ại diện theo ủy quyền của nguyên ơn ông Thanh trình bày: Ngày 20/05/2021 đ n ngày 12/08/2022, ông Nguyễn Thanh P có cho bà Huỳnh Kim H1 vay tiền nhiền lần, số tiền vay ít nhất là 30.000.000đồng, lần vay tiền nhiều nhất là 1.000.000.000đồng, do tin tư ng bà H1 đi làm C ng ty, có lương ổn đinh, khi vay tiền bà H1 nói vay để có vốn làm ăn, làm chủ hụi, cho vay lại với lãi suất cao hơn để hư ng lợi, cụ thể: Bà H1 cho ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1966 và bà Phan Thị T, sinh năm 1968, cùng địa chỉ: Khóm D, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp vay lại, việc bà H1 cho ông C và bà T vay đã được Tòa án thành phố H giải quy t ong và chuyển qua giai đoạn thi hành án. Th ng thường thì bà H1 nhận tiền đóng lãi của bà T, rồi lấy một phần ra để đóng lãi cho ông P, bà T bể nợ nên kh ng đóng lãi cho bà H1, dẫn đ n bà H1 không trả gốc và lãi cho ông P. Do đó, ngày 01/05/2023 ông P yêu cầu bà Huỳnh Kim H1 chốt lại số tiền đã vay, bà H1 thống nhất còn nợ số tiền 680.000.000đ (Sáu trăm tám mươi triệu đồng), các biên nhận trước đây hai bên óa h t. Bà H1 có trả tiền gốc cho ông P được 03 lần: Vào tháng 5/2023 trả cho ng P được 40.000.000đồng, tháng 6/2023 trả cho ng P được 15.000.000đồng, tháng 7/2023 trả cho ng P được 15.000.000đồng. Tổng cộng bà H1 trả cho ông P số tiền gốc là 70.000.000đồng. Bà H1 kh ng đóng lãi và ông P nhiều lần th ng báo cho bà H1, yêu cầu bà H1 trả tiền gốc cho ông P. Nhưng đ n nay bà H1 không trả cho ông P được thêm bất kỳ khoản tiền nào.
Ngoài ra, ông P cũng có cho chồng của bà H1 là ông Nguyễn Văn Y vay tiền nhiều lần vào ngày 12/07/2021, ngày 21/10/2022 và đầu năm 2023, mỗi một lần vay ít nhất là 200.000.000đồng, lần vay sau cùng là 300.000.000đồng, mục đích ông Y vay là để trả nợ vay của Ngân hàng, vay vài ngày rồi trả.
Nay ông P yêu cầu bà Huỳnh Kim H1 và ông Nguyễn Văn Y (chồng của bà Huỳnh Kim H1) có trách nhiệm liên đới trả cho ng P số tiền vay còn nợ là 610.000.000đ (Sáu trăm mười triệu đồng), kh ng yêu cầu tính lãi.
- Bị ơn bà uỳnh Kim 1 trình bày: Bà thừa nhận còn nợ ng Nguyễn Thanh P số tiền 610.000.000đ (Sáu trăm mười triệu đồng). Mục đích bà H1 mượn tiền của ông P là để mượn vốn cho người khác vay lại để lấy tiền lãi. Số tiền mượn của ông P bà có cho vợ chồng của ng Nguyễn Văn C và bà Phan Thị Tuy t m mà vợ chồng ông C và bà T kh ng trả nợ nên vợ chồng bà đã kh i kiện và Tòa án ra quy t định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy t định số 12/2023/QĐCNHGT-DS ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, hiện nay vợ chồng bà đã nộp đơn yêu cầu Thi hành khoản nợ này nhưng vợ chồng bà chưa được thi hành án nên bà chưa có tiền trả cho ng P. Việc bà mượn tiền của ông P bà kh ng hề cho chồng bà bi t nên chồng bà kh ng có liên quan gì đ n số nợ này. Do đó, bà tự nguyện một mình trả số nợ 610.000.000đ (Sáu trăm mười triệu đồng) cho ông P.
- Bị ơn ông Nguyễn Văn Y trình bày: Việc vợ ng là bà Huỳnh Kim H1 mượn ông Nguyễn Thanh P số tiền 610.000.000đ (Sáu trăm mười triệu đồng) thì ng kh ng hề hay bi t. Nên ng P yêu cầu ng cùng vợ ng trả số tiền nêu trên cho ông P thì ông kh ng đồng ý. Nhưng việc vợ chồng ông có cho ông Nguyễn Văn C và bà Phan Thị Tuy t m tiền là có. Do vợ chồng ông C và bà T kh ng trả nợ nên vợ chồng ng đã kh i kiện và Tòa án ra quy t định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy t định số 12/2023/QĐCNHGT-DS ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự. Vợ chồng ng đã nộp đơn yêu cầu Thi hành khoản nợ này nhưng chưa thi hành được nên vợ ng chưa trả cho ông P số tiền nợ 610.000.000đ (Sáu trăm mười triệu đồng).
Tại phiên tòa, ng H ác định: Mặc dù ng Y không có ký tên vào các biên nhận nợ tiền vay nhưng việc bà H1 vay tiền của ng P thì ông Y đương nhiên phải bi t b i các căn cứ sau: Từ khi bà H1 vay tiền của ng P đ n nay thì vợ chồng bà H1 vẫn còn sống chung trong nhà và tình cảm vợ chồng vẫn bình thường; Trước khi bà H1 vay tiền của ng P thì ông Y cũng có vay tiền của ng P nhưng đã trả xong; Ông Y đều bi t nh ng người mà bà H1 cho vay lại để lấy tiền lãi cao hơn trả cho ông P và gi a ng Y với bà H1 không có văn bản thoả thuận nào là vợ chồng làm ăn riêng, tài sản nào của vợ chồng là tài sản riêng, kể cả số tiền 1.700.000.000đồng mà ng Y, bà H1 yêu cầu ng C, bà T trả cũng là trả chung cho ông Y và bà H1. Nên ông P gi y yêu cầu là yêu cầu bà H1 và ông Y cùng có trách nhiệm liên đới trả nợ vay cho ông P tổng cộng số tiền vốn là 610.000.000đồng.
Tại phiên toà, bà H1 xác định: Gi a bà và ng Y từ trước đ n nay vẫn chung sống với nhau bình thường, tình cảm vợ chồng vẫn bình thường, vợ chồng bà làm ăn riêng nạnh ai nấy làm nhưng không có văn bản thoả thuận gì về việc làm ăn riêng này.
Tại phiên toà, ng Y xác định: Gi a ng và bà H1 từ trước đ n nay vẫn chung sống với nhau bình thường, tình cảm vợ chồng vẫn bình thường, ng kh ng bi t việc vợ ng vay tiền của ng P vì vợ chồng ng làm ăn riêng nạnh ai nấy làm nhưng không có văn bản thoả thuận gì về việc làm ăn riêng này. Ông Y thừa nhận lời khai trong biên bản lấy lời khai ngày 18/12/2023 chính là của ng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành Hồng Ngự phát biểu ý ki n về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quy t vụ án từ khi thụ lý đ n trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quy t vụ án: Căn cứ Điều 37 Luật h n nhân và gia đình; Điều 166, Điều 288, Điều 463, Điều 466 Bộ Luật dân sự. Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào k t quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:
Về thủ tụ tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ kiện tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản nên thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về n i dung vụ án:
- X t yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P yêu cầu bà Huỳnh Kim H1 và chồng là ng Nguyễn Văn Y cùng có trách nhiệm liên đới trả cho ng số tiền vay 610.000.000đ (Sáu trăm mười triệu đồng), kh ng yêu cầu tính lãi. Hội đồng xét xử xét thấy:
Việc bà Huỳnh Kim H1 vay tiền của ng Nguyễn Thanh P có làm biên nhận nợ vào ngày 20/05/2021 và ngày 12/08/2022. Trong biên nhận nợ chỉ có ch ký tên của bà Huỳnh Kim H1 chứ kh ng có ký nhận của chồng bà H1 là ông Nguyễn Văn Y. Nhưng trong quá trình giải quy t vụ án bà H1 thừa nhận là có vay tiền của P số tiền 610.000.000đồng và đồng ý trả số tiền trên theo yêu cầu của ng P. Do đó, ác định việc bà H1 có vay tiền của ng P là có thật.
Mặc dù ng Y kh ng thừa nhận là có bi t việc bà H1 vay tiền của ông P nhưng theo lời khai của bà H1 thì mục đích mượn tiền của ông P là để mượn vốn cho người khác vay lại để lấy tiền lãi cao hơn rồi lấy tiền lãi thu được trả lãi cho ông P còn các khoản dư ra thì bà tham gia chơi hụi là cũng nhằm mục đích chăm lo chi tiêu cho cuộc sống chung của gia đình.
Bà H1 thừa nhận số tiền mượn của ng P bà có cho vợ chồng của ng Nguyễn Văn C và bà Phan Thị T vay lại nhưng vợ chồng ông C và bà T kh ng trả nợ nên vợ chồng bà đã kh i kiện và Tòa án ra quy t định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy t định số 12/2023/QĐCNHGT-DS ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, hiện nay vợ chồng bà đã nộp đơn yêu cầu Thi hành khoản nợ này nhưng vợ chồng bà chưa được thi hành án nên bà chưa có tiền trả cho ng P. Việc bà H1 mượn tiền của ông P là để mượn vốn cho người khác vay lại, nh ng người bà H1 cho vay lại này thì ng Y có bi t và việc kh i kiện tại Toà án đối với ông C, bà T là do cả hai vợ chồng ng Y và bà H1 cùng kh i kiện, theo Quy t định thì buộc ông C, bà T trả nợ chung cho vợ chồng ng Y và bà H1 tổng số nợ là 1.700.000.000đồng.
Việc ng Y cho rằng vợ chồng còn chung sống chung trong nhà, tình cảm vợ chồng vẫn bình thường nhưng làm ăn riêng, tiền ai nấy làm là kh ng có căn cứ vì ông Y kh ng có chứng cứ chứng minh là có thoả thuận làm ăn riêng với bà H1.
Ông Y cho rằng ng bi t việc bà H1 có tiền cho người khác vay lại nhưng ng kh ng bi t do đâu mà bà H1 có tiền là kh ng có căn cứ vì cụ thể như trường hợp của ông C và bà T thì ông Y bi t và bi t trước thời điểm ng P kiện bà H1 trong vụ án này.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/12/2023 thì ng Y cũng thống nhất rằng phần ng Y mượn của người khác là 500.000.000đồng, ng Y lấy được tiền của ông C và bà T thì ông Y trả số tiền này, phần còn lại thì ng Y cũng đồng ý cho bà H1 đem trả cho ng P cho dứt nợ.
Do đó, xác định việc bà Huỳnh Kim H1 mượn tiền của ng Nguyễn Thanh P là ông Nguyễn Văn Y phải bi t.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng thì vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây: Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thi t y u của gia đình.
Từ nh ng nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy buộc ng Nguyễn Văn Y cùng có trách nhiệm liên đới với bà Huỳnh Kim H1 để trả nợ vay cho ông Nguyễn Thanh P với số tiền 610.000.000đ (Sáu trăm mười triệu đồng) là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận.
- X t đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự là có căn cứ như nhận định trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận là phù hợp với quy định pháp luật.
- Về án phí: Do yêu cầu kh i kiện của ng Nguyễn Thanh P được chấp nhận nên bà Huỳnh Kim H1, ông Nguyễn Văn Y phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Thanh P được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QU T ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 166, Điều 288, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quy t 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên ử:
1. Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P.
Buộc bà Huỳnh Kim H1 và ông Nguyễn Văn Y cùng có trách nhiệm liên đới trả nợ vay cho ng Nguyễn Thanh P với số tiền 610.000.000đ (Sáu trăm mười triệu đồng).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra Quy t định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đ n khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Về án phí:
- Buộc bà Huỳnh Kim H1 và ông Nguyễn Văn Y có nghĩa vụ liên đới chịu 28.400.000đ (Hai mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Thanh P được nhận lại 14.200.000đ (Mười bốn triệu hai trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0595, ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự.
3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND TP. Hồng Ngự; - Các đương sự; - Lưu. | TM. H I ĐỔNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN T A Nguyễn Phương Thảo |