- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vụ án dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn hởi iện của bà Võ Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NAM --------------- Bản án số: 02/2024/DS- ST Ngày: 21-3-2024 V/v: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thị Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Đình Hương;
Bà Trần Thị Minh Loan.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Xuân Nguyệt - Thư Tòa án nhân dân huyện Phư c ơn t nh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà BLúp Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phư c ơn t nh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công hai vụ án dân sự thụ l số 12/2023/TLST - D ngày 26 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXX T - DS ngày 22 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị L tên gọi hác: Võ Thị N sinh năm: 1975.
Địa ch : Tổ dân phố số 4 thị trấn K huyện P t nh Q có mặt.
- Bị đơn: Bà Võ Thị V sinh năm: 1991.
Địa ch : 102 đường Q, tổ dân phố số 5 thị trấn K huyện P t nh Q có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ghi ngày 24/10/2023 l i khai trong uá tr nh giải uy t v án c ng nh t i phiên t a sơ thẩm nguyên đơn à V Thị L tr nh ày nh sau:
Bà Võ Thị L và bà Võ Thị V là chỗ thân quen, bà L là người giữ con cho bà V, vì quá thân quen, nên bà L vừa mượn tiền của Ngân hàng Nông nghiệp về để cho con ăn học. Bà V có định mượn tiền trong vòng một tháng sẽ trả lại nên vào ngày 16/12/2020 (âm lịch), bà Võ Thị L đã cho bà Võ Thị V mượn số tiền là 20.000.000 đồng, bà V có viết Giấy mượn tiền (Trong giấy mượn tiền ghi mượn của chị Võ Thị N vì tên thường gọi của bà L là Võ Thị N) nhưng đến ngày hẹn trả nợ thì bà V không trả tiền cho bà mặc dù bà đã đòi nợ nhiều lần nhưng bà V cố hất nợ mãi. Bà V có cấn một điện thoại và trả số tiền 400.000 đồng cho hoản tiền chơi biêu 36.000.000 đồng chứ hông phải trả cho hoản mượn 20.000.000 đồng. Do đó bà hởi iện yêu cầu bà V trả lại cho bà số tiền đã mượn 20.000.000 đồng và hông yêu cầu trả lãi.
- Bị đơn à V Thị V trình bày:
Vào ngày 16/12/2020 (Âm lịch) bà Võ Thị V mượn của bà Võ Thị N số tiền 20.000.000 đồng và đã trả xong số tiền đã mượn cho bà Võ Thị N. Bà Võ Thị V mượn tiền của bà Võ Thị N khác chứ hông mượn tiền của bà Võ Thị L. Bà V biết bà Võ Thị L là Võ Thị N có giữ con cho bà V nhưng bà V hông mượn tiền của bà L. Tại phiên hòa giải bà V hai có cấn điện thoại cho bà N v i số tiền 10.000.000 đồng và đã trả tiền mặt 10.000.000 đồng cho bà L nhưng bà L hông thừa nhận nên tại phiên tòa bà V thay đổi lời hai hông có việc cấn điện thoại cho bà L và cũng hông mượn tiền của bà Võ Thị L. Do đó bà Võ Thị V hông chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị L.
- Đ i diện Viện kiểm sát phát iểu:
Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán từ hi thụ l vụ án tiến hành thu thập chứng cứ đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48 Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự; Đối v i Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng Thư đã thực hiện đúng nhiệm vụ tại phiên tòa; Đối v i nguyên đơn; bị đơn đã chấp hành đúng quy định tại các Điều 70 Điều 71 Điều 72 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26 điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 463; Điều 466; Điều 469 của Bộ luật Dân sự để giải quyết vụ án theo hư ng chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L buộc bà Võ Thị V phải trả lại cho bà Võ Thị L số tiền đã mượn 20.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
au hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ t c tố t ng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phư c ơn t nh Quảng Nam theo hoản 3 Điều 26 điểm a hoản 1 Điều 35 điểm a hoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về việc giao nộp chứng cứ: Các đương sự trong vụ án đều nhất trí v i biên bản về việc iểm tra việc giao nộp tiếp cận công hai chứng cứ ngày 23/11/2023.
Về nội dung tranh chấp:
Xét yêu cầu của Nguyên đơn: Bà Võ Thị L yêu cầu bà Võ Thị V trả lại số tiền 20.000.000 đồng đã mượn, bà L đã cung cấp Giấy mượn tiền do bà V viết trong giấy mượn tiền ghi “Tôi có m ợn chị V Thị N số tiền 20.000.000 đồng y” và hai bên hông thỏa thuận thời hạn trả nợ và hông có lãi suất. Mặc dù trong giấy mượn tiền bà V ghi có mượn tiền của chị Võ Thị N, nhưng do tên thường gọi của bà L là N, vì vậy hi cho bà V mượn tiền bà L yêu cầu bà V viết giấy mượn tiền ghi tên là Võ Thị N. Bà Võ Thị L hẳng định tên Võ Thị L và Võ Thị N là một người và việc này cũng đã được những người hàng xóm láng giềng, Tổ dân phố cũng như Công an thị trấn Khâm Đức huyện Phư c ơn t nh Quảng Nam xác nhận vào ngày 21/12/2023. Do đó có cơ sở để xác định bà Võ Thị N là Võ Thị L và bà Võ Thị L cho bà Võ Thị V mượn tiền nhưng hai bên hông thỏa thuận thời gian trả nợ và hông có lãi suất. Theo quy định tại hoản 1 Điều 469 Bộ luật Dân sự quy định “Đối với hợp đồng vay không kỳ h n và không có lãi th ên cho vay có uyền đ i l i tài sản và ên vay c ng có uyền trả nợ vào ất cứ lúc nào nh ng phải áo cho nhau i t tr ớc một th i gian hợp lý trừ tr ng hợp có thỏa thuận khác”. Do đó bà Võ Thị L đã đòi nhiều lần nhưng bà Võ Thị V hông trả lại tiền đã mượn cho bà Võ Thị L. Vì vậy bà Võ Thị L hởi iện yêu cầu bà Võ Thị V trả lại số tiền 20.000.000 đồng là có cơ sở.
Xét ý ki n của Bị đơn: Bà Võ Thị V thừa nhận có mượn của bà Võ Thị N số tiền 20.000.000 đồng và đã trả hết cho bà N, bà mượn của bà Võ Thị N khác chứ hông mượn tiền của bà L, nên bà V hông chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị L. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Võ Thị V đã xác nhận bà V và bà L có mối quan hệ quen biết bà L giữ con cho bà V lời hai này phù hợp v i lời hai của bà Võ Thị L, bà V cũng đã thừa nhận có mượn tiền của bà Võ Thị N và đã trả đủ số tiền cho bà N, do bà L hông thừa nhận nên bà mượn tiền của bà Võ Thị N khác chứ hông mượn tiền của bà Võ Thị L. Bà V cũng đã xác nhận giấy mượn tiền bà L cung cấp cho Tòa án là của bà Võ Thị V đã viết hi mượn tiền của bà Võ Thị N và khi trả tiền cho bà N thì bà V đã lấy lại giấy mượn tiền và về cất ở nhà hông hiểu tại sao bà Võ Thị L lại có giấy mượn tiền của bà để iện đòi tiền nên bà hông đồng trả tiền cho bà L. Theo như xác nhận của Công an thị trấn Khâm Đức thì bà Võ Thị N có tên trong giấy hai sinh là Võ Thị L và việc bà V mượn tiền bà N thực chất là mượn của bà L và việc bà V hai đã trả hết số tiền đã mượn cho bà N nhưng bà V không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho việc đã mượn và trả số tiền cho bà Võ Thị N khác. Do đó hông có cơ sở để chấp nhận lời hai của bà V.
Về lãi suất: Giấy mượn tiền hai bên không thỏa thuận về lãi suất. Tại phiên tòa bà Võ Thị L cũng hông yêu cầu bà Võ Thị V phải trả lãi suất nên hông đề cập giải quyết nếu bà V hông trả nợ cho bà L thì phải chịu lãi suất theo qui định của pháp luật.
. Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu hởi iện của bà Võ Thị L buộc bà Võ Thị V phải trả cho bà Võ Thị L số tiền đã mượn 20.000.000 đồng.
Tại phiên tòa iểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu hởi iện của bà Võ Thị L buộc bà Võ Thị V phải trả cho bà Võ Thị L số tiền đã mượn 20.000.000 đồng. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện iểm sát tại phiên toà là có căn cứ theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu miễn giảm thu nộp quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì yêu cầu hởi iện của bà Võ Thị L được chấp nhận nên bà Võ Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ hoản 3 Điều 26; điểm a hoản 1 Điều 35; điểm a hoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 469 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Xử
1. Chấp nhận đơn hởi iện của bà Võ Thị L.
Buộc bà Võ Thị V phải trả cho bà Võ Thị L số tiền đã mượn là 20.000.000 đồng (Hai m ơi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến hi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu hoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị V phải chịu số tiền là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Hoàn trả lại cho bà Võ Thị L số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011795 ngày 25/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phư c ơn t nh Quảng Nam.
Nguyên đơn bị đơn có quyền háng cáo trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tr ng hợp bản án đ ợc thi hành theo uy định t i Điều 2 Luật thi hành án Dân sự th ng i đ ợc thi hành án dân sự ng i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định t i các Điều 6 Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo uy định t i Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện iểm sát; - Chi cục T.H.A; - Tòa án t nh; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phan Thị Lan |