vanban.org

Bản án 02/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên Tuyên án 13/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thành L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 04/7/2022.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thành L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY AN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HSST
Ngày: 13/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Tiến và ông Phạm Ngọc

Trưng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh– Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên tham gia

phiên tòa: Bà Trịnh Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân

(TAND) huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên và điểm cầu thành phần trụ sở Nhà tạm giữ

Công an huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, TAND huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên xét

xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 25/2022/HSST ngày 28 tháng 11 năm

2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng

12 năm 2022 đối với:

* Bị cáo: Đỗ Thành L – sinh năm 1998, tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: thôn

L, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: không. Trình độ văn hóa (học

vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Đỗ Ngọc C, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1969;

Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 15 tháng 3 năm 2017 bị Tòa án nhân dân

thành phố Tuy Hòa tuyên phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy Đ tại

khoản 1 Điều 138 BLHS 1999. Chấp hành án phí năm 2017. Ngày 03/02/2018 chấp

hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/7/2022. Hiện đang bị tạm giam

tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Huỳnh Thị Thùy L, sinh năm

1989; Trú tại: thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Đỗ Ngọc C, sinh năm 1969; Trú tại: Thôn L, xã B, thành phố T, tỉnh Phú

Yên. Có mặt.

- Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1969; Trú tại: Thôn L, xã B, thành phố T,

tỉnh Phú Yên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 04 tháng 7 năm 2022, Đỗ Thành L liên hệ với người

tên Đ (không xác định được nhân thân) mua ma túy loại Ketamine với giá 6.000.000đ. Sau đó, tại ngã tư đường A – N thuộc thành phố T, một thanh niên không xác Đ được nhân thân giao ma túy cho L, L mang số ma túy nêu trên về nhà cất giấu.

Khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, L lấy ma túy bỏ vào vỏ bao thuốc lá

hiệu Cotab, cất vào bên trong túi dưới phía bên trái bên ngoài của áo khoác rồi điều khiển xe mô tô biển số 78E1-061.27 đến xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên để sử dụng cùng với Đ (không xác định được nhân thân). Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi đến thôn P, xã A, huyện T thì bị Công an tỉnh Phú Yên phối hợp cùng Công an huyện Tuy An, Công an xã A bắt quả tang thu giữ trong túi áo khoác của L hai bì nilon chứa ma túy loại Ketamine. Qua khám xét khẩn cấp tại nhà của L ở thôn L, xã B, thành phố T đã thu giữ một bì nilon bên trong chứa ma túy loại Ketamine. Quá trình điều tra xác định được số ma túy này được L mua của đối tượng tên Đ vào ngày 29 tháng 6 năm 2022 đem về nhà cất giấu để sử dụng nhưng quên sử dụng thì bị thu giữ.

Tại Kết luận giám định số 265/KL-KTHS ngày 06 tháng 7 năm 2022 của

Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên kết luận: Tinh thể màu trắng trong 03 bì nilon là ma túy, loại Ketamine, có tổng khối lượng 3,631g.

Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKSTA ngày 24/11/2022 của Viện kiểm sát

nhân dân huyện Tuy An truy tố bị cáo Đỗ Thành L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa: Bị cáo vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra,

thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố là đúng và xin Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố phát biểu luận tội, vẫn

giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích hành

vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị HĐXX tuyên

bố bị cáo Đỗ Thành L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38

BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Thành L từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính

từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 04/7/2022. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo

không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị

cáo.

* Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

(BLTTHS), đề nghị:

- Tịch thu tiêu huỷ: 3,351g ketamine còn lại sau giám định; 02 vỏ bao thuốc

lá hiệu Cotab; 01 áo khoác vải màu đen; 01 cây kiếm bao gồm cả vỏ kiếm dài

100cm; 01 cái cân tiểu ly điện tử bằng nhựa màu xám, 20 bì nilon trong suốt có

một đầu được miết mép, kích thước mỗi bì (03x03)cm, chưa qua sử dụng; 01 hộp

giấy hình hộp chữ nhật có kích thước (29x22x10)cm

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu oppo màu xanh

đen, bên trong có sim điện thoại số 0789.405.546

- Trả cho bị cáo Đỗ Thành L: Số tiền 20.900.000đ; 01 căn cước công dân

mang tên Đỗ Thành L; 01 thẻ ATM Ngân hàng Viettin Bank mang tên Do Thanh

L.

- Giao cho Cơ quan CSĐT tiếp tục tạm giữ để điều tra, xác minh làm rõ chủ

sở hữu hợp pháp và xử lý theo quy định pháp luật 01 xe mô tô, biển số 78E1-

061.27, số khung RLCS5C630CY636821, số máy 5C63636834, kèm theo chìa

khóa xe; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Huỳnh Thị Thùy L.

Trong phần đối đáp, không phát sinh tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng xin

HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN Đ CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự,

thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa,

bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành

vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ

quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; bản kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 04 tháng 7 năm 2022 tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên, Đỗ Thành L có hành vi tàng trữ trái phép 3,311g ma túy loại Ketamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an tỉnh Phú Yên bắt quả tang. Qua khám xét khẩn cấp tại nhà của L ở thôn L, xã B, thành phố T thu giữ 0,320g ma túy loại Ketamine được L mua vào ngày 29/6/2022 để sử dụng nhưng quên sử dụng. Như vậy, tổng khối lượng ma túy Đỗ Thành L đã tàng trữ trái phép là 3,631g. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 BLHS. Do đó, Cáo trạng của VKSND huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến

chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản; Bản thân bị cáo biết rõ ma túy là chất cấm, việc sử dụng ma túy trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của bị cáo, ảnh hưởng trực tiếp đến gia đình, xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bà ngoại ruột là người có công cách mạng nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

Xét thấy việc Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị hình phạt tù đối với bị cáo

là có căn cứ, cần chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu

nhập nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với kết luận giám định cây kiếm Đỗ Thành L tàng trữ tại nhà là vũ khí

thô sơ, tuy nhiên hành vi tàng trữ vũ khí thô sơ của Đỗ Thành L chưa đủ yếu tố

cấu thành tội Tàng trữ vũ khí thô sơ quy định tại điều 306 BLHS.

Quá trình điều tra xác định ngày 29/6/2022, Đỗ Thành L đã mua ma túy từ

người có tên Đ 900.000đ gồm Methamphetamine, MDMA, Ketamine. Nhưng chỉ

mới sử dụng Methamphetamine và MDMA, còn Ketamine quên sử dụng thì bị

tạm giữ khi khám xét khẩn cấp. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đỗ

Thành L không cấu thành tội phạm.

Cơ quan CSĐT đã xác minh và truy tìm nhưng không xác định được nhân

thân đối tượng tên Đ và tên Đ nên không có căn cứ để xử lý.

[5] Về vật chứng vụ án:

[5.1] Đối với: 3,351g ketamine còn lại sau giám Đ; 02 vỏ bao thuốc lá hiệu

Cotab; 01 áo khoác vải màu đen; 01 cây kiếm bằng kim loại và gỗ, có chiều dài

cả vỏ kiếm là 100cm; 01 cái cân tiểu ly điện tử bằng nhựa màu xám; 20 bì nilon

trong suốt có một đầu được miết mép, kích thước mỗi bì (03x03)cm, chưa qua sử

dụng; 01 hộp giấy hình hộp chữ nhật có kích thước (29x22x10)cm: Là tang vật

phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu

hủy.

[5.2] Đối với: 01 điện thoại di động hiệu oppo màu xanh đen, bên trong có

sim điện thoại số 0789.405.546, đây là phương tiện liên lạc dùng vào việc phạm

tội của bị cáo, còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy Đ

pháp luật.

[5.3] Đối với số tiền 20.900.000đ; 01 căn cước công dân mang tên Đỗ

Thành L; 01 thẻ ATM Ngân hàng Viettin Bank mang tên Do Thanh L: Đây là tài

sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.

[5.4] Đối với 01 xe mô tô, biển số 78E1-061.27, số khung

RLCS5C630CY636821, số máy 5C63636834, kèm theo chìa khóa xe; 01 giấy

chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Huỳnh Thị Thùy L. Quá trình điều tra Đỗ

Thành L xác định vào đầu năm 2022, L mua xe mô tô 78E1-061.27 từ một người

không xác định nhân thân, không làm giấy tờ mua bán, chỉ đưa tiền và giao nhận

giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nên L sử dụng từ thời điểm mua đến nay và

chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh bà Huỳnh

Thị Thùy L là người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 78E1-

061.27. Tuy nhiên, cách đây khoảng 10 năm bà L đã đi khỏi địa phương, không xác định được ở đâu, làm gì. Cơ quan điều tra không có đầy đủ thông tin về bà L để xác minh làm rõ và đã tiến hành thông báo truy tìm chủ sở hữu; do đó giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy An tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ chủ sở hữu hợp pháp và xử lý theo quy định pháp luật.

[6] Về án phí: Bị cáo Đỗ Thành L thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án

phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ:

Căn cứ: điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của

BLHS;

1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thành L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; Thời hạn tù tính

từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 04/7/2022.

2. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố

tụng hình sự; Điều 228 BLDS;

- Tịch thu tiêu hủy: 3,351g ketamine còn lại sau giám Đ; 02 vỏ bao thuốc

lá hiệu Cotab; 01 áo khoác vải màu đen; 01 cây kiếm bằng kim loại và gỗ, có chiều dài cả vỏ kiếm là 100cm; 01 cái cân tiểu ly điện tử bằng nhựa màu xám; 20 bì nilon trong suốt có một đầu được miết mép, kích thước mỗi bì (03x03)cm, chưa qua sử dụng; 01 hộp giấy hình hộp chữ nhật có kích thước (29x22x10)cm.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu

xanh đen, bên trong có sim điện thoại số 0789.405.546

- Trả lại cho bị cáo Đỗ Thành L: 01 thẻ ATM Ngân hàng Viettin Bank mang

tên Do Thanh L.

-Giao 01 xe mô tô, biển số 78E1-061.27, số khung RLCS5C630CY636821,

số máy 5C63636834, kèm theo chìa khóa xe; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Huỳnh Thị Thùy L cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ chủ sở hữu hợp pháp và xử lý theo quy định pháp luật.

(Toàn bộ số vật chứng nói trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25

tháng 11 năm 2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy An và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên).

- Trả lại cho bị cáo Đỗ Thành L số tiền 20.900.000đ (Hai mươi triệu chín

trăm nghìn đồng) (hiện số tiền đang tạm giữ tại tài khoản số: 3949.0.1049297 của

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy An, theo ủy nhiệm chi lập ngày 28/11/2022

của Công an huyện Tuy An và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy An).

- Trả lại cho bị cáo Đỗ Thành L: 01 căn cước công dân mang tên Đỗ Thành

L (đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ,

khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý

và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị

cáo;

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày

kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có

quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc

niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ