- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Thi hành án; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT TỈNH ĐĂK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HSST Ngày 11-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lộc Thị Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thơm và bà Lê Thị Hòa
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Thể - Thư ký TAND huyện Cư Jút.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên toà: Ông Hoàng Xuân Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2022/TLST-HS ngày 29/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2022/QĐXXST-HS ngày 30/12/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê L, sinh năm 1991, nơi sinh: Đăk Nông; nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; con ông Lê Quang P và bà Bùi Thị H; vợ: Lương Thị Thu T, sinh năm 1995 và 01con, sinh năm 2013, cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Đăk Nông - Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Quang P, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông - Có mặt.
- Người chứng kiến:
1. Anh Phạm Đức T, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt.
2. Chị Nguyễn Đất Quỳnh A, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ V, thôn T, xã K, Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 26/9/2022, bị cáo Lê L đến tìm một người tên L1 (không rõ nhân thân lai lịch và địa chỉ ở khu vực chợ xã T, huyện C, tỉnh Đăk Nông hỏi mua ma túy tổng hợp để sử dụng thì L1 nói không còn ma túy và hẹn L ngày 29/9/2022 đến lấy. Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 29/9/2022, L điều khiển xe mô tô gắn biển kiểm soát 47P1-007.52 đi từ chỗ làm ở xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông đến khu vực chợ thuộc Thôn M, xã T, huyện C, tỉnh Đăk Nông tìm gặp L1 để mua ma túy tổng hợp về sử dụng. Khi đến nơi, L hỏi mua 500.000 đồng ma túy tổng hợp thì L1 đồng ý và đưa cho L 01 túi nilon màu trắng được quấn bằng một mảnh băng keo chống thấm màu bạc, bên trong túi nilon có chứa tinh thể màu trắng. L cất giấu túi nilon vừa mua được vào trong ống quần bên trái đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô đi về hướng đường bê tông thuộc Thôn M, xã T, huyện C. Khi đi đến đoạn đường gần khu vực nghĩa trang thuộc thôn M xã T, huyện C, L bị lực lượng Công an xã T yêu cầu dừng xe kiểm tra. Lúc này, L đã tự nguyện lấy 01 túi nilonmàu trắng được quấn bằng một mảnh băng keo chống thấm màu bạc, bên trong túi nilon có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp Methamphetamine ở trong ống quần bên trái đang mặc trên người giao nộp cho Công an. Sau đó, Công an xã T đã phối hợp với lực lượng Công an huyện C tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.
Tại Bản Kết luận giám định số: 263/KL-KTHS ngày 04/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong một túi nilon màu trắng được niêm phong trong bì thư gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng mẫu là 0,2905 gam là Methamphetamine. Tinh thể màu trắng trong bì thư hoàn lại sau giám định có khối lượng là 0,2527 gam.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (Một) túi nilon màu trắng trong suốt, bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp Methamphetamine) bên ngoài túi nilon được quấn bằng một mảnh băng keo chống thấm màu bạc do Lê L lấy trong ống quần bên trái mà L đang mặc trên người giao nộp cho Công an được niêm phong trong một phong bì thư có chữ ký xác nhận của Lê L, Nguyễn Đất Quỳnh A, Phạm Đức T và dấu tròn đỏ của Công an xã T;
- 01 (Một) xe mô tô kiểu dáng Dream màu nâu, gắn BKS 47P1-007.52, xe đã qua sử dụng.
Cáo trạng số: 51/CTr-VKS ngày 29/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã truy tố bị cáo Lê L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (Sau đây viết tắt là BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo về tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý" điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS; đề nghị Hội đồng xét xử ( Sau đây viết tắt là HĐXX) tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Lê L từ 15 (Mười lăm) đến 18 (Mười tám) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 46, 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: 0,2527 gamMethamphetamine còn lại sau giám định được đựng trong 01 gói ziper chỉ đỏ có kích thước (4x6) cm, gói ziper này và túi nilon đựng mẫu gửi giám định được để trong 01 bì thư có kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu 263/KL-KTHS và ghi mẫu hoàn trả, mặt sau bì thư được dán kín có chữ ký giáp lai của giám định viên, trợ lý giám định, đại diện Công an huyện C và dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Nông.
- Chuyển xe mô tô có số khung: RMNDCH9MN8HD13417, số máy: VHLFM152FMHV00219417 và biển số xe 47P1-007.52 đang tạm giữ tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jut sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện C để xử lý theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo Lê L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, kết luận giám định, lời khai của những người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, do đó hoàn toàn có đủ căn cứ để kết luận: Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 29/9/2022, tại đoạn đường bê tông gần khu vực nghĩa trang thuộc thôn M, xã T, huyện C, tỉnh Đăk Nông, lực lượng Công an xã T bắt quả tang Lê L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, L tự nguyện lấy 01 (Một) túi ma túy, là Methamphetamine có trọng lượng 0,2905 gam từ trong ống quần bên trái mà L đang mặc trên người giao nộp cho Công an. Methamphetamine Long cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước cấm lưu hành, có tác hại lớn đến sức khỏe con người và là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Việc cất giữ trái phép Heroine để sử dụng là vi phạm pháp luật hình sự nhưng do ý thức coi thường pháp luật nên vẫn cố ý thực hiện.
Hành vi của bị cáo Lê L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự (BLHS).
Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
................”
Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo Lê L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, HĐXX xét thấy cần phải có mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của của bị cáo, HĐXX thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như vậy mới bảo đảm tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Đối với việc bị cáo Lê L khai ngày 29/9/2022 mua ma túy của một người tên L1 ở khu vực chợ xã T thuộc thôn M, xã T, huyện C, Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút đã xác minh và triệu tập người có tên Nguyễn Xuân L2 lên làm việc, đối chất với Lê L nhưng L2 không thừa nhận đã bán ma túy cho Lê L, mặt khác L không nhận diện được người đối chất với mình là người đã bán ma túy cho L vào ngày 29/9/20222, nên chưa có đủ căn cứ để chứng minh hành vi bán ma túy của L1. Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với ông Lê Quang P là người cho Lê L mượn xe mô tô gắn BKS 47P1-007.52, ngày 29/9/2022 Lê L sử dụng xe mô tô trên đi mua ma túy để sử dụng thì ông P không biết nên không có căn cứ xử lý.
Hình phạt bổ sung: Qua xác minh tại UBND thị trấn E thể hiện bị cáo không có tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
- Cần tịch thu tiêu hủy: 0,2527 gamMethamphetamine còn lại sau giám định được đựng trong 01 gói ziper chỉ đỏ có kích thước (4x6) cm, gói ziper này và túi nilon đựng mẫu gửi giám định được để trong 01 bì thư có kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu 263/KL-KTHS và ghi mẫu hoàn trả, mặt sau bì thư được dán kín có chữ ký giáp lai của giám định viên, trợ lý giám định, đại diện Công an huyện Cư Jut và dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Nông.
- Đối với chiếc xe mô tô có số khung: RMNDCH9MN8HD13417, số máy: VHLFM152FMHV00219417 và biển số xe 47P1-007.52 mà ông Lê Quang P cho bị cáo L mượn: HĐXX xét thấy: Đối với 01 (một) xe mô tô có số khung: RMNDCH9MN8HD13417, số máy: VHLFM152FMHV00219417 mà Lê L sử dụng để đi mua ma túy là xe của ông Lê Quang P (bố ruột của Lê L) mua lại của một người (không nhớ rõ nhân thân lai lịch) vào khoảng tháng 7/2022, không có giấy tờ mua bán; biển kiểm soát 47P1-007.52 là của xe mô tô nhãn hiệu SYM, có số khung: RLGBA12ADBD021261, số máy: VMVVBAD021261, Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jut đã tiến hành xác minh nhưng chưa tìm được chủ sở hữu hợp pháp; mặt khác ông P không chứng minh được việc ông có được chiếc xe này là hợp pháp theo quy định của luật dân sự, đồng thời ông P cũng không có yêu cầu gì đối với chiếc xe và biển kiểm soát trên. HĐXX xác định: chiếc xe mô tô có gắn BKS 47P1-007.52 là tài sản chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp. HĐXX xét thấy: cần giao chiếc xe trên cho Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đăk Nông tiến hành tìm chủ sở hữu theo Luật Thi hành án; khi hết thời hạn theo quy định mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Lê L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê L 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (Ngày 29/9/2022).
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 46; Điều 47 BLHS; Điều 106 của BLTTHS tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: 0,2527 gamMethamphetamine còn lại sau giám định được đựng trong 01 gói ziper chỉ đỏ có kích thước (4x6) cm, gói ziper này và túi nilon đựng mẫu gửi giám định được để trong 01 bì thư có kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu 263/KL-KTHS và ghi mẫu hoàn trả, mặt sau bì thư được dán kín có chữ ký giáp lai của giám định viên, trợ lý giám định, đại diện Công an huyện Cư Jut và dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Nông.
- Giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đăk Nông tiến hành tìm chủ sở hữu theo Luật Thi hành án đối với 01 (Một) xe mô tô có số khung: RMNDCH9MN8HD13417, số máy: VHLFM152FMHV00219417 và biển số xe 47P1-007.52; khi hết thời hạn theo quy định mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung công quỹ nhà nước
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/11/2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Lê L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông. - Phòng PV06; PC10 CA tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Cư Jút; - CA huyện Cư Jút; - Chi cục THADS huyện Cư Jút; - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ; VP; BP-THAHS. | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lộc Thị Vinh |