- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lee Hwux Tufng - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HSST Ngày 16 - 01 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC - TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Quyên. Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Lê Văn Đông 2.Bà Hà Thị Tâm Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Cao Thị Nhung - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Bá Thước. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tú: Kiểm sát viên. Ngày 16 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bá Thước; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2022/HSST ngày 27/12/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HS ngày 05/01/2023. Đối với bị cáo Lê Hữu T ; Sinh ngày 13 tháng 01 năm 1981 (có mặt) HKTT: Số nhà 29, đường TD-NT-TH, tỉnh Thanh Hóa. Tạm trú: Phố 2, thị trấn CC-BT, tỉnh Thanh Hóa. CCCD số: 038081028013; cấp ngày 24/01/2022. Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Nghề nghiệp: Lái xe cho Công ty TNHHTM và DV LH Địa chỉ: Phố 2, CC-BT, tỉnh Thanh Hóa. Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lê Hữu N và bà Lê Thị H Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con đầu trong gia đình; có vợ là Đỗ Thị D đã ly hôn năm 2020. Bị cáo có 01 con là Lê Hữu P , sinh năm 2014. Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Người bị hại: Vi Văn C ; Sinh năm: 2005 (Đã chết). Đại diện hợp pháp của bị hại: Ngân Thị T Sinh năm 1983 (mẹ đẻ người bị hại) Nơi cư trú: Thôn Tôm, xã AT, huyện BT, tỉnh Thanh Hóa. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH TM và DV LH. Đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị H Sinh năm 1982 Nơi cư trú: Phố 2, thị trấn CC-BT , tỉnh Thanh Hóa.
- HTX TM và DVDL Sinh Vượng. Đại diện theo pháp luật: Đặng Thị V ; Sinh năm 1960 (vắng mặt) Nơi cư trú: Khu 3, thị trấn QH, tỉnh Thanh Hóa. Người làm chứng:
- Lò Văn Đ ; Sinh năm 1996(vắng mặt) Nơi cư trú: Thôn B , xã BC-BT, tỉnh Thanh Hóa.
- Lương Hoàng T ; Sinh năm 2003 (vắng mặt) Nơi cư trú: Thôn B , xã BC-BT, tỉnh Thanh Hóa.
- Nguyễn Chí T Sinh năm 1983(vắng mặt) Nơi cư trú: G , xã AT-BT, tỉnh Thanh Hóa.
- Hoàng Đình T ; Sinh năm 1987(vắng mặt) Nơi cư trú: G , xã AT-BT, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dụng vụ án được tóm tắt như sau;
Lê Hữu T là nhân viên lái xe cho Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Thương Mại và dịch vụ LH có địa chỉ phố 2 thị trấn CC-BT.
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 23/7/2022, sau khi giao hàng xong T điều khiển xe ô tô BKS: 36C-02418 di chuyển trên tuyến đường Quộc lộ 217 theo hướng xã Điền Lư đi thị trấn Càng Nàng để về Công ty. Trên xe có Lương Hòang T và Lò Văn Đ ngồi bên ghế phụ đều là nhân viên Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Thương Mại và dịch vụ LH. Khi đi đến Km 91+610, Quốc lộ 217 địa phận thôn Giổi, xã Ái Thượng, huyện Bá Thước vào khoảng 22 giờ 54 phút, T điều khiển xe ô tô BKS: 36C-02418 lấn sang làn đường giành cho xe ngược chiều dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS: 36G5-269.55 do Vi Văn C điều khiển theo hướng thị trấn Cành Nàng đi xã Điền Quang.
Hậu quả Vi Văn C chết tại chỗ, xe ô tô và mô tô hư hỏng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bá Thước. Hiện trường còn nguyên vẹn, xác định được vị trí xảy ra tai nạn, thu giữ các dấu vết tại hiện trường, xác định và thu giữ các phương tiện tham gia giao thông trong vụ tai nạn, được thể hiện ở biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường (BL:09-26):
Tại bản kết luận giám định số: 29078/KL-KTHS ngày 26/8/2022 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: mặt trước ngoài bên trái trán xe ô tô BKS: 36C-02418 với mặt trước ngoài bên ốp nhựa đầu xe, gương chiếu hậu bên trái đến mặt trước ngoài tay nắm bên trái xe mô tô BSK 36G5-269.55. Tại thời điểm xảy ra va chạm hai phương tiện di chuyển ngược chiều. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà (số 2) được thể hiện trong bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, thuộc phần đường dành cho xe cơ giới chiều từ thị trấn Cành Nàng đi xã Điền Quang. Không đủ cơ sở xác định vận tốc của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm.
Vị trí nơi xảy ra tai nạn không phải đoạn đường trong khu đông dân cư, không có biển báo hạn chế tốc độ.
Tại bản kết luận giám định số: 5292/KL-KTHS ngày 03/10/2022 của Viện hình sự Bộ Công an kết luận “Không có dữ liệu hành trình, tốc độ của xe ô tô BKS 36 C -024.18 từ Website “Bình minh” tênđăng nhập xe 75202418 mật khẩu:12345”
Tại kết luận giám định số: 2633/GĐPY-PC09 ngày 04/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Xác định nguyên nhân chết của Vi Văn C : “ Các vết rách da, cơ, xây xước da, bầm tụ máu tại vùng: mặt, vai trái, tay trái, hai chân vỡ xương gò má phải. Tụ máu tổ chức dưới da đầu vùng trán, thái dương, chẩm phải, cơ thái dương hai bên. Vỡ xương hộp sọ. Tụ máu lan tỏa màng mềm. Nguyên nhân chết do đa chấn thương”
Kết quả điều tra xác định: Vi Văn C điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ có sử dụng cồn Methanol nồng độ 467,7mg/100ml máu (Bốn trăm sáu mươi bảy phẩy bảy miligram Ethanol trong một tram mililit máu.
Trách nhiệm dân sự: Bị cáo và chị Lê Thị H đại diện hợp pháp của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương Mại và dịch vụ LH tự nguyện thỏa thuận bồi thường toàn bộ cho gia đình người bị hại 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) Đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Hữu T .
Các phương tiện tham gia giao thông sau khi khám xe kết luận định giá xe đã được trả cho chủ sở hữu.
Tại cáo trạng số: 05/CT-VKSBT-TA ngày 26/12/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước đã truy tố bị cáo Lê Hữu T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Bị cáo trình bày khi đi đến Km 91+610, Quốc lộ 217 địa phận thôn Giổi, xã Ái Thượng, huyện Bá Thước vào khoảng 22 giờ 54 phút, T điều khiển xe ô tô BKS: 36C-02418 đang đi bên phần đường bên phải theo chiều đi của mình thì phát hiện một người điều khiển xe máy đi ngược chiều trong tình trạng loạng choạng. Bị cáo bấm còi và giảm tốc độ thì thấy người điều khiển xe máy đi sang phần đường bên phải của bị cáo nên theo quán tính bị cáo phải đánh lái sang bên trái phần đường của mình để tránh thì người điều khiển xe máy lại bất ngờ điều khiển xe về phần đường bên trái của bị cáo. Khi va chạm xem ô tô của bị cáo điều khiển chưa về hết phần đường bên phải của mình. Sau khi va chạm bị cáo cùng hai anh em trên xe và gọi thêm người đưa người bị hại đi cấp cứu và bảo vệ hiện trường, điện báo cho cơ quan chức năng đến làm việc. Hậu quả xảy ra ngoài ý muốn bị cáo xin chia buồn với gia đình người bị hại và xin HĐXX xem xét cho bị cáo được tự cải tại tại địa phương.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Bà Lê Thị H –Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương Mại và dịch vụ LH không yêu cầu bị cáo bồi thường gì và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo hiện nay là nhân viên của Công ty TNHH TM và DV LH đề nghị HĐXX xem xét và miễn chấp hành hình phạt tù cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp của người bị hại công nhận gia đình đã nhận bồi thường 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) và không yêu cầu gì khác. Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS tuyên bố bị cáo Lê Hữu T pham tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, s khoản 1, khỏan 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Lê Hữu T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Và đề nghị ấn định thời gian thử thách cho bị cáo từ 30 đến 36 tháng. Bị cáo phải chịu án án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CUẢ TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX nhận định như sau; [1.] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện các hành vi tố tụng và ban hành các Quyết định tố tụng đúng, đủ, chính xác về thẩm quyền, trình tự tố tụng theo quy định của BLTTHS năm 2015. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. [2.] Về tội danh: Có căn cứ xác định bị cáo Lê Hữu T điều khiển xe ô tô BKS: 36C-02418 va chạm với xe mô tô BKS: 36G5-269.55 đi ngược chiều do anh Vi Văn Chung điều khiển, khi va chạm xem ô tô BKS: 36C-02418 chưa về đúng làn đường theo chiều đi của mình được phân định bằng vạch kẻ đường, dẫn đến hậu quả anh Vi Văn Chung chết do đa chấn thương. Đủ cơ sở kể luận bị cáo Lê Hữu T phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Vì vậy VKSND huyện Bá Thước truy tố bị cáo Lê Hữu T về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 của BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [3.] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lê Hữu Tùng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và tỏ ra rất ăn năn hối hận đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định trong cùng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Bị cáo đã bồi thường toàn bộ phần dân sự cho gia đình bị hại. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS “tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả”.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và gia đình người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Bố đẻ bị cáo là thương binh. Người bị hại chưa đủ tuổi và chưa có giấy phép lái xe, sử dụng nồng độ cồn khi tham gia giao thông, người bị hại cũng có lỗi. Bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. [4.] Hình phạt: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định. HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội và cho bị cáo miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cũng đủ cải tạọ, giáo dục bị cáo thành người tốt và đảm bảo tính răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
- Không phạt bổ sung đối với bị cáo. HĐXX trả lại giấy phép lái xe B2 số: 380161005440 cấp ngày 30/3/2016 có giá trị đến hết 30/3/2026 bản chính cho bị cáo Lê Hữu Tùng. Hiện nay bị cáo vẫn đang làm tại - Công ty TNHH -TM và DV Lâm Hải địa chỉ tại phố 2, thị trấn Cành Nàng, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Và bị cáo đăng ký tạm trú tại Phố 2, thị trấn Cành Nàng, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Nên giao bị cáo cho UBND thị trấn Cành Nàng quản lý giáo dục trong thời gian thử thách và Công ty TNHHTM và DV LH có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn Cành Nàng, huyện Bá Thước trong việc giám sát giáo dục bị cáo. [5]Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường toàn bộ cho người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại nên HĐXX không xem xét. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chủ phương tiện xe ô tô không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên HĐXX không xem xét. [6] Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã giao trả phương tiện cho chủ sở hữu và gia đình người bị hại là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. [7]Về án phí: Bị cáo phải chịu toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260; Các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Căn cứ: Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, ngày 30/12/2016 và mục 1 phần I Danh mục mức án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị Quyết 326/2016/PL-UBTVQH14. 2.Tuyên bố: Bị cáo Lê Hữu T phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. 3.Xử phạt: Bị cáo Lê Hữu Tùng 15 (Mười lăm) tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Hữu T cho UBND thị trấn CC-BT, tỉnh Thanh Hóa quản lý giáo dục trong thời gian thử thách và Công ty TNHHTM và DV LH có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn CN-BT trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Không phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Hữu T . Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng B2 số: 380161005440 cấp ngày 30/3/2016 có giá trị đến hết 30/3/2026 bản chính cho bị cáo Lê Hữu T . 4. Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường toàn bộ giữa bị cáo Lê Hữu T và gia đình người bị hại bà Ngân Thị T và ông Vi Văn L là 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) đã bồi thường xong. 5 . Án phí: Bị cáo Lê Hữu T chịu toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Án sơ thẩm có mặt bị cáo Lê Hữu T , người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H , có mặt người đại diện hợp pháp của người bị hại bà Ngân Thị T vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị V . Bị cáo Lê Hữu Tùng, chị Lê Thị H Ngân Thị T có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Đặng Thị V có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt án hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND cùng cấp, VKS cấp trên; - THA Dân sự ; - Phòng giám đốc án ; - Cơ quan CSĐT CA huyện ; - Bị cáo;… - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Quyên |