- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Cương bị truy tố về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HS-ST Ngày 11/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trúc Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thái
Ông Nguyễn Bá Tòng
- Thư ký phiên tòa: Bà Thạch Thị Diễm Trinh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thơ - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2022/TLST-HS, ngày 12 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh năm 1995, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (bị cáo có mặt tại phiên tòa). Nơi cư trú: ấp T1, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phi L, sinh năm 1970 và bà Trần Thị S, sinh năm 1971; Anh, em ruột: có 04 người; Vợ: Nguyễn Thị Hồng G; con : 01 người; tiền án: không có; tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/5/2022 cho đến nay.
Người bào chữa cho bị cáo C: Ông Nguyễn Văn Út, là luật sư của Văn phòng luật sư Việt Út thuộc Đoàn luật sư tỉnh Sóc Trăng ( có mặt)
1. Bị hại: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 2000 (chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị D1 (mẹ ruột bị hại D), sinh năm 1979 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Mỹ Đông 1, xã Mỹ Quới, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1985( vắng mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Văn C được ông Nguyễn Văn T là chủ máy gặt đập liên hợp và xe kéo lúa (ở ấp 17, xã Vĩnh Thành, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng) thuê điều khiển máy cắt lúa. Vào ngày 25/3/2022 bị cáo Nguyễn Văn C được ông T giao điều khiển máy cắt lúa ở khu vực ấp Mỹ Lộc 1, xã Mỹ Bình, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng còn Trần Văn H và Đặng Hoàng K điều khiển xe kéo lúa chở lúa từ ruộng vào nhà cho người dân.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, sau khi bị cáo C điều khiển máy gặt đập liên hợp cắt lúa xong trên phần đất của ông Nguyễn Văn Ngợi (ở ấp Mỹ Lộc 1, xã Mỹ Bình, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng) thì bị cáo C đến phụ giúp Trần Văn H và Đặng Hoàng K kéo lúa bao từ ruộng lúa của ông Ngợi chuyển vào để cặp bên lề lộ 937B thuộc khu vực ấp Mỹ Lộc 1, xã Mỹ Bình, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Trong lúc điều khiển xe kéo lúa đưa lúa bao từ ruộng vào lề lộ, Trần Văn H điều khiển đến kênh Thủy Lợi thì làm rớt 10 bao lúa. Sau khi chuyển xong những bao lúa trên xe xuống thì H điều khiển xe cùng với bị cáo C và K chạy đến chuyển tiếp 10 bao lúa bị rớt trước đó lên xe. Thời điểm này, C trực tiếp điều khiển xe kéo lúa còn H và K đi bộ. Đến khoảng 23 giờ 55 phút cùng ngày, khi xe di chuyển đến lề lộ 937B, H đi trước đến lề lộ quan sát nhìn thấy ánh đèn xe cách chỗ H và bị cáo C khoảng 20m - 30m, H vẫy tay ra hiệu đồng thời la lớn “có xe đến kìa” để bị cáo C dừng xe lại. Do tiếng xe kéo lúa to và nghỉ đêm khuya không có xe qua lại, bị cáo C không quan sát hai hướng trước khi cho xe qua lộ mà bị cáo C dùng tay điều khiển cần số về số 1 để xe di chuyển liên tục qua lộ, khi xe kéo lúa qua hơn giữa lộ (cách lề phải 60-80cm theo hướng đi của xe mô tô), thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số: 83E1-253.30 do Nguyễn Văn D (ở ấp Mỹ Đông 1, xã Mỹ Quới, thị xã Ngã Năm) điều khiển đi theo hướng từ Mỹ Quới về Mỹ Bình, dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả: Nguyễn Văn D tử vong tại hiện trường.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 83/KLGĐPY-KTHS, ngày 04/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận:
Dấu hiệu chính qua giám định:
- Trên tử thi có nhiều vết thương;
- Bầm tụ máu dưới da và trong cơ dưới vết thương ở vùng ngực bên phải;
- Gãy thân xương ức;
- Gãy cung trước sụn sườn số 2,3,4,5 bên phải;
- Phổi phải bị dập, sung huyết;
- Khoang lồng ngực bên phải chứa đầy máu loãng.
Nguyên nhân chết: Sốc chấn thương.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKSNN ngày 11 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”; Đồng thời đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo C từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
Về trách nhiệm dân sự: người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Bị cáo C thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội. Bị cáo xin được hưởng án treo.
Người bào chữa cho bị cáo C thống nhất quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, thống nhất các tình tiết giảm nhẹ cũng như mức hình phạt đối với bị cáo C, người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo C ở mức thấp nhất của khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
. Đối với việc vắng mặt của người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn T; người làm chứng Dương Văn Kha, Dương Văn Kha, Nguyễn Văn Ngợi, Đăng Hoàng K đã có lời khai làm rõ các tình tiết vụ án, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt những người nêu trên.
. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận: Bị cáo C được ông Nguyễn Văn T là chủ máy gặt đập liên hợp và xe kéo lúa thuê điều khiển máy cắt lúa. Vào ngày 25/3/2022 bị cáo Nguyễn Văn C điều khiển máy gặt đập liên hợp ở khu vực ấp Mỹ Lộc 1, xã Mỹ Bình, thị xã Ngã Năm còn Trần Văn H và Đặng Hoàng K điều khiển xe kéo lúa chở lúa từ ruộng vào nhà cho người dân.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, sau khi bị cáo C điều khiển máy gặt đập liên hợp cắt lúa xong thì C đến phụ giúp Trần Văn H và Đặng Hoàng K kéo lúa từ ruộng chuyển vào để cặp bên lề đường. Trong lúc điều khiển xe kéo lúa đưa lúa bao từ ruộng vào lề lộ, bị cáo C trực tiếp điều khiển xe kéo lúa còn H và K đi bộ. Đến khoảng 23 giờ 55 phút cùng ngày, khi xe di chuyển đến lề lộ, bị cáo nghỉ đêm khuya không có xe qua lại nên không quan sát khi xe kéo lúa qua hơn giữa lộ thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số: 83E1-253.30 do Nguyễn Văn D điều khiển dẫn đến ông Nguyễn Văn D tử vong tại chổ.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng cùng các chứng cứ và tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở để xác định: Bị cáo C điều khiển xe kéo lúa là phương tiện tự chế, cấm lưu thông trên đường bộ và khi điều khiển xe kéo lúa từ ruộng lên đường, do không dừng lại quan sát, không tuân thủ các quy định tham gia giao thông đường bộ nên đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ dẫn đến gây tai nạn làm ông D chết tại chổ.
Từ hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Xét các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 250.000.000 đồng; gia đình bị hại có đơn bãi nại, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, bị cáo có ông ngoại là Trần Văn Miên là liệt sĩ, được tặng huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba, huân chương chiến công giải phóng hạng ba, huân chương kháng chiến hạng ba, đồng thời bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt đối với bị cáo C lẽ ra cần xử phạt tù đối với bị cáo mới đủ sức răn đe giáo dục phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, bị cáo C có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo bị xử phạt tù không quá 03 năm, có khả năng tự cải tạo sửa chữa lỗi lầm và không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo cho bị cáo C được hưởng án treo là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về trách nhiệm dân sự: người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với ông Nguyễn Văn T là chủ xe, tuy nhiên ông T không có giao xe này cho bị cáo điều khiển nên chưa có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông T.
. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa về việc áp dụng pháp luật là có căn cứ chấp nhận. Về hình phạt cần xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm như Kiểm sát sát viên đề nghị là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi mà bị cáo gây ra.
.Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày 11 tháng 01 năm 2023.
Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lợi, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Văn C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách bị cáo Nguyễn Văn C cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Trách nhiệm dân sự: người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng);
Báo cho bị cáo được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng (1); - Phòng KTNV và THA- TAT Sóc Trăng(1); - VKSND tỉnh Sóc Trăng(1); - VKSND thị xã Ngã Năm(1); - CAND thị xã Ngã Năm(1); - CQĐT Công an thị xã Ngã Năm(1); - UBND xã Vĩnh Lợi, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng (1); - Các bị cáo(1); - Người bào chữa (1); - Đại diện hợp pháp của bị hại (1) - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (1); - Lưu hồ sơ vụ án (1). - Bộ phận lưu trữ (5). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Trúc Phương |