- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________ Bản án số: 02/2023/HS-ST Ngày 18/10/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình và bà Nguyễn Thị Yên.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thuỳ Linh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Nhà Tạm giữ Công an huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Kiểm sát viên: Ông Hoàng Văn Nghĩa.
- Thư ký Toà án: Ông Nguyễn Trọng Định.
- Người tham gia tố tụng khác:
Cán bộ, chiến sĩ thuộc cơ sở giam giữ Công an huyện Mộc Châu: Ông Đinh Trung Bắc, ông Phạm Trung Hiếu.
Ngày 18 tháng 10 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Văn Đ, sinh năm 2001, tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản 19/8, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Phạm Thị N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2023 đến nay. Tham gia phiên toà tại điểm cầu thành phần. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 00 giờ 20 phút ngày 23/8/2023, tổ công tác Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại khu vực Tiểu khu 3, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La, qua kiểm tra hành chính về ma túy với Lê Văn Đ (Có lý lịch nêu trên) đã phát hiện Lê Văn Đ đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu đen bên trong đựng cục chất bột màu hồng. Lê Văn Đ khai cục chất bột màu hồng là Methamphetamine, cất giữ nhằm mục đích để sử dụng.
Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng gồm gói nilon màu đen bên trong đựng cục chất bột màu hồng, 01 bật lửa ga, 01 mảnh giấy bạc và dẫn giải Lê Văn Đ về Công an huyện Mộc Châu để điều tra làm rõ.
Ngày 23/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng số ma túy thu giữ của Lê Văn Đ, kết quả: Cục chất bột màu hồng có khối lượng 0,22 gam, lấy toàn bộ 0,22 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu “Đ”. Cơ quan Công an huyện Mộc Châu ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại kết luận giám định số: 2053 ngày 25/8/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu Đ là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,22 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,22 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra Lê Văn Đ khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 22/8/2023 Đ đi đến Tiểu khu 3, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La thì gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 01 gói nilon màu đen bên trong đựng hồng phiến với giá 200.000đ. Sau khi mua được ma tuý Đ đi đến đường tránh thuộc Tiểu khu 3, thị trấn M ngồi trên một chiếc cống thoát nước và lấy một ít ma tuý ra sử dụng, khi Đ vừa sử dụng ma tuý xong và để số ma tuý còn lại trên nắp cống nơi đang ngồi thì bị Tổ công tác Công an huyện Mộc Châu phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Bản cáo trạng số: 193/CT-VKSMC ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị cáo Lê Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên quan điểm truy tố Lê Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố Lê Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lê Văn Đ từ 18 đến 24 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc phong bì thư do Công an huyện Mộc Châu phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: “Vật chứng vụ Lê Văn Đ bắt ngày 23/8/2023 (mảnh nilon màu đen và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư do Công an huyện Mộc Châu phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: Test thử ma túy đối với Lê Văn Đ ngày 23/8/2023. KQ: dương tính; 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ, nhãn hiệu H Viet (đã qua sử dụng); 01 mảnh giấy bạc không rõ hình thù màu đen (đã qua sử dụng).
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo Lê Văn Đ thừa nhận: Hồi 00 giờ 20 phút ngày 23/8/2023, Lê Văn Đ đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,22 gam Methamphetamine, với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Lê Văn Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản nên không phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 chiếc phong bì thư do Công an huyện Mộc Châu phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: “Vật chứng vụ Lê Văn Đ bắt ngày 23/8/2023 (mảnh nilon màu đen và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư do Công an huyện Mộc Châu phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: Test thử ma túy đối với Lê Văn Đ ngày 23/8/2023. KQ: dương tính; 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ, nhãn hiệu H Viet (đã qua sử dụng); 01 mảnh giấy bạc không rõ hình thù màu đen (đã qua sử dụng). Không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này do đó không có căn cứ để điều tra xử lý.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.
Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 23/8/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc phong bì thư do Công an huyện Mộc Châu phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: “Vật chứng vụ Lê Văn Đ bắt ngày 23/8/2023 (mảnh nilon màu đen và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư do Công an huyện Mộc Châu phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: Test thử ma túy đối với Lê Văn Đ ngày 23/8/2023. KQ: dương tính; 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ, nhãn hiệu H Viet (đã qua sử dụng); 01 mảnh giấy bạc không rõ hình thù màu đen (đã qua sử dụng).
Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/10/2023 giữa Công an huyện Mộc Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Châu.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 18/10/2023.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - THAHS; - Trại giam; - Chi cục THA dân sự huyện Mộc Châu; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trung Kiên |