vanban.org

Bản án 02/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 12/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Lâm Trọng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lâm Trọng C 06 năm 08 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/9/2022. Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Trọng C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Lâm Trọng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BỈM SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HS-ST
Ngày: 12/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Sang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Lược

2. Ông Đỗ Đức Thẩm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn tham gia phiên tòa:

Ông Đỗ Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ tên: Lâm Trọng C; Sinh năm 1970, tại TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Số nhà 113, đường N, khu phố 1, phường B, thị xã B, tỉnh T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/10; Bố: Lâm Trọng T; Mẹ: Mai Thị H (đều đã chết); Bị cáo có vợ là Bùi Thị H và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2004.

Tiền án: không, tiền sự: không

Nhân thân:

+ Ngày 29/8/1991: bị TAND thị xã B, tỉnh T xử phạt 02 năm tù về tội“Trốn khỏi nơi giam”.

+ Ngày 13/5/1992: bị TAND tỉnh T xử phạt 15 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Ngày 28/5/1996: Bị TAND huyện H, tỉnh T xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.

+ Năm 1999: bị Công an phường L, thị xã B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau”, phạt tiền 50.000 đồng.

+ Năm 2000: bị Công an thị xã B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Dùng súng, cung nỏ hoặc các phương tiện khác để săn bắn”, phạt tiền 100.000 đồng.

+ Năm 2001: bị Công an thị xã B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, phạt tiền 500.000 đồng.

+ Năm 2002: bị UBND tỉnh T ra Quyết định đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc Xuân Hà, thời hạn 18 tháng.

+ Năm 2006: bị Công an thị xã B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, phạt tiền 500.000 đồng.

+ Ngày 16/6/2008: bị Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh T xử phạt 18 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

+ Ngày 18/9/2009: bị Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh T xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. (BL: 81-122)

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/9/2022 đến ngày 03/10/2022 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bỉm Sơn. Có mặt.

- Người làm chứng:

1, Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1964

Trú tại: khu phố 1, phường P, thị xã B, tỉnh T. Vắng mặt.

2, Ông Trịnh Xuân P, sinh năm 1954

Trú tại: khu phố 1, phường P, thị xã B, tỉnh T. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Đào Văn T, sinh năm 1969

Trú tại: khu phố 1, phường B, thị xã B, tỉnh T. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 27/9/2022 tổ công tác công an thị xã B làm nhiệm vụ tại đoạn đường QL1A thuộc khu phố 1, phường P, thị xã B thì phát hiện Lâm Trọng C đang dừng xe máy Honda Future màu nâu vàng đồng, BKS: 36F5-171.20 có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì phát hiện, thu giữ tại túi áo ngực phía ngoài bên trái mà C đang mặc 01 gói bên ngoài bọc một lớp giấy nilon màu đen, tiếp đến là lớp giấy (loại giấy báo) màu vàng trắng, kích thước gói khoảng (1,5x3)cm, bên trong gói chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn. C khai gói thu giữ nêu trên là ma túy, loại Heroine, mang đi để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt. Sau đó, tổ công tác đã niêm phong vật chứng theo quy định và đưa C cùng vật chứng thu giữ về trụ sở làm việc, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, còn thu giữ của C 01 xe mô tô BKS: 36F5-171.20, 01 điện thoại di động Nokia màu đen, loại bàn phím bên trong có hai sim thuê bao: 0763.017.940 và 0359.147.788.

Tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở, đồ vật và tài sản của Lâm Trọng C tại số nhà 113, đường N, khu phố 1, phường B, B, đã phát hiện và thu giữ vật chứng, đồ vật, tài liệu như sau:

+ 01 cuộn bên ngoài được cuốn bằng lớp nilon màu đen, tiếp đến là lớp nilon màu trắng, bên trong đựng 03 gói nilon màu xanh lá cây, kích thước mỗi gói khoảng (5x5)cm, bên trong mỗi gói đều được bọc bằng lớp giấy màu trắng (loại lịch treo tường), bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn;

+ 02 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng và 08 mảnh giấy nilon màu đen, có kích thước mỗi mảnh khoảng (7x10)cm;

+ 08 viên nén màu đỏ hình tròn, một mặt có in chữ chìm WY và 2/3 viên nén màu đỏ một mặt có in chữ chìm WY được bọc bên ngoài lớp nilon màu xanh lá cây;

+ Số tiền 8.500.000 đồng;

+ 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng gold, bên trong lắp sim số 0825.470.366.

+ 01 điện thoại Iphone 7 màu hồng, bên trong lắp sim số 0343.233.123.

+ 01 điện thoại Iphone X màu đen, bên trong lắp sim số 0967.213.465.

+ 01 điện thoại Nokia dạng bàn phím màu xanh, bên trong lắp sim số 0917.791.552.

+ 01 điện thoại Oppo R17 xanh tím, lắp 02 sim gồm: 0397.098.243 và 0912.190.391.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Aiblade, BKS: 36F5-139.19 màu xám đen.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha màu trắng, BKS: 36F5-151-05.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha màu đen, BKS: 36M7-5443. (BL: 33-35, 161-163)

Ngày 27/9/2022, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định chất ma túy tại phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh T.Tại bản Kết luận giám định số 3375/KL-KTHS ngày 30/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận:

+ 01 gói giấy kích thước khoảng (1,5x3)cm, bên ngoài được bọc lớp nilon màu đen, tiếp đến là lớp giấy màu vàng trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn có tổng khối lượng: 0,542g (không phẩy năm bốn hai gam) loại: Heroine.

+ 01 cuộn bên ngoài cuộn bằng lớp nilon màu đen, tiếp đến là lớp nilon màu trắng, bên trong đựng 03 gói giấy (dạng giấy lịch) chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn có tổng khối lượng: 13,414g (mười ba phẩy bốn một bốn gam) loại: Heroine.

+ 01 gói nilon màu xanh lá cây bên trong chứa 08 viên nén màu đỏ hình tròn một mặt có in chữ WY và 01 cục chất màu đỏ (dạng 2/3) viên có tổng khối lượng: 0,795g (không phẩy bảy chín năm gam) loại: Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Lâm Trọng C khai nhận toàn bộ số ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang và khi khám xét khẩn cấp là của C, do nghe những người nghiện nói ở khu vực bến xe Niệm Nghĩa – TP Hải Phòng có người lái xe ôm khoảng tầm tuổi C bán ma túy nên đã đến tìm mua và không liên lạc trước. Ngày 25/09/2022 C đi xe khách một mình ra bến xe Niệm Nghĩa – TP Hải Phòng và đã mua được ma túy của một người xe ôm không quen biết khoảng hơn 50 tuổi đi xe máy Dream với giá 11.000.000đ về để sử dụng cho bản thân, gồm 04 chỉ ma túy Heroine và 09 viên ma túy tổng hợp dạng Hồng phiến. Do trời tối nên C không nhìn thấy rõ đặc điểm của người bán ma túy. Sau khi mua được ma túy C mang về cất giấu tại phòng ngủ và trong ống luồng ở nhà kho phía sau nhà để sử dụng dần. C đã sử dụng hết một chỉ ma túy Heroine cùng 1/3 viên ma túy tổng hợp dạng Hồng phiến. Việc C đi mua và cất giấu ma túy trong nhà thì gia đình C không biết. Còn gói ma túy Heroine bị thu giữ lúc bị lực lượng Công an bắt quả tang ngày 27/09/2022 tại khu phố 1, phường P, thị xã B là gói ma túy Chính mang đi để sử dụng.

Vật chứng của vụ án gồm:

+ Toàn bộ số ma túy sau giám định được đựng trong 01 (một) Phong bì niêm phong tang vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T phát hành, được dán kín niêm phong bởi các hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và các chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đ, Phạm Văn T.

+ 01 điện thoại di động Nokia, màu đen, loại bàn phím, đã qua sử dụng.

+ 02 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng và 08 (tám) mảnh giấy nilon màu đen có kích thước mỗi mảnh khoảng (7x10)cm

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSBS ngày 26/12/2022 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lâm Trọng C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lâm Trọng C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 2 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Lâm Trọng C từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: số ma túy còn lại sau giám định; 02 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng và 08 (tám) mảnh giấy nilon màu đen có kích thước mỗi mảnh khoảng (7x10)cm

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia màu đen, loại có bàn phím, đã qua sử dụng.

Về án phí: đề nghị buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu được, kết luận giám định,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, điều tra viên; VKSND thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai tại phiên tòa, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp lệ, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 27 tháng 9 năm 2022 tại đoạn đường QL1A thuộc địa phận khu phố 1, phường P, thị xã B, tỉnh T, Lâm Trọng C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,542g ma túy loại Heroine. Ngoài ra, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lâm Trọng C thu giữ 13,414g ma túy loại Heroine và 0,795g ma túy loại Methamphetamine. Lâm Trọng C khai nhận toàn bộ số ma túy trên là của C mua để sử dụng. Vì vậy, Lâm Trọng C phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng ma túy là 14,751g (mười bốn phẩy bảy năm một gam), trong đó có 13,956g ma túy loại Heroine và 0,795g ma túy loại Methamphetamine.

Đối chiếu với quy định của Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vì bị cáo có hành vi tàng trữ 02 chất ma túy là Heroine và Methamphetamine nên tội phạm và hình phạt áp dụng đối với bị cáo được quy định tại điểm n khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.

Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây phức tạp tình hình về tội phạm và tệ nạn về ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là quá trình điều tra và tại phiên tòa thành thật khai báo. Vì vậy, khi lượng hình HĐXX áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được đường lối chính sách của pháp luật Nhà nước, từ đó cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Các vật chứng cơ quan điều tra thu giữ đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bỉm Sơn chuyển đến Chi Cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn để bảo quản gồm:

01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành bên trong có chứa toàn bộ bao gói mở niêm phong của 03 phong bì và 0,493g (không phẩy bốn chín ba gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì do Công an thị xã Bỉm Sơn phát hành, mặt trước có ghi “Vụ Lâm Trọng Chính”; 12,885 g (một hai phẩy tám tám năm gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì do Công an thị xã Bỉm Sơn phát hành, mặt trước có ghi “Vụ Lâm Trọng C – Kí hiệu M1”; 07 (bảy) viên nén màu đỏ hình tròn một mặt có in chữ WY có tổng khối lượng là 0,627g (không phẩy sáu hai bảy gam) của phong bì do Công an thị xã Bỉm Sơn phát hành, mặt trước có ghi “Vụ Lâm Trọng C – Kí hiệu M2” (là mẫu vật còn lại sau giám định). Vật chứng này là vật loại thuộc Nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu, tiêu hủy;

02 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng và 08 (tám) mảnh giấy nilon màu đen có kích thước mỗi mảnh khoảng (7x10)cm. Vật chứng này không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy;

01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen loại bàn phím, đã cũ là tài sản của bị cáo, không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo; như vậy là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về những vấn đề khác:

- Đối với các tài sản thu giữ tại nhà Lâm Trọng C không liên quan đến hành vi phạm tội, gồm:

+ Các xe mô tô BKS 36F5 – 171.20; 36F5 – 151.05; 36F5 – 139.19: Đây là những tài sản hợp pháp của gia đình bị can C, kết quả kiểm tra thực tế cho thấy: Số khung, số máy của các xe trên không bị cắt, ghép, đục hay sửa chữa và phù hợp với đăng ký xe; qua tra cứu không phải tang vật của vụ án nào.

+ Những chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, Iphone 7, Nokia màu xanh (thu giữ khi khám xét) là những tài sản của chị Bùi Thị H sử dụng để liên lạc hằng ngày.

+ Chiếc điện thoại di động OPPO R17 là tài sản của anh Lâm Quang L, con trai Lâm Trọng C.

+ Chiếc điện thoại di động Iphone X là tài sản của anh Lâm Trọng L, con trai Lâm Trọng C.

+ Số tiền 8.500.000 đồng: Lâm Trọng C và gia đình khai nhận đây là tiền của gia đình vay mượn để sửa nhà.

Do các tài sản trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu và đại diện gia đình Lâm Trọng C là chị Bùi Thị H. Như thế là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave Anpha, màu đen, biển số: 36M7 – 5443 qua điều tra xác định đây là tài sản không liên quan đến vụ án, tuy nhiên khi kiểm tra thông tin thì phát hiện xe có biển số và số khung, số máy không trùng khớp, chưa rõ ràng về nguồn gốc nên Cơ quan điều tra đã tách ra khỏi vụ án, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

- Đối với nguồn gốc số ma túy Lâm Trọng C khai mua của người đàn ông không quen biết tại bến xe Niệm Nghĩa – Hải Phòng. Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để tiến hành điều tra nhưng đến nay chưa xác định được. Do đó chưa đủ căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý trong vụ án này.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng áp phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo được kháng cáo bản án theo điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm n khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự,

Tuyên bố:

Bị cáo Lâm Trọng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lâm Trọng C 06 năm 08 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/9/2022.

Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T phát hành bên trong có chứa toàn bộ bao gói mở niêm phong của 03 phong bì và 0,493g (không phẩy bốn chín ba gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì do Công an thị xã B phát hành, mặt trước có ghi “Vụ Lâm Trọng C”; 12,885 g (một hai phẩy tám tám năm gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì do Công an thị xã B phát hành, mặt trước có ghi “Vụ Lâm Trọng C – Kí hiệu M1”; 07 (bảy) viên nén màu đỏ hình tròn một mặt có in chữ WY có tổng khối lượng là 0,627g (không phẩy sáu hai bảy gam) của phong bì do Công an thị xã B phát hành, mặt trước có ghi “Vụ Lâm Trọng C – Kí hiệu M2” (là mẫu vật còn lại sau giám định).

- 02 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng và 08 (tám) mảnh giấy nilon màu đen có kích thước mỗi mảnh khoảng (7x10)cm

Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen loại bàn phím, đã cũ.

(theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã Bỉm Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự Thị xã Bỉm Sơn ngày 26/12/2022).

Về án phí: áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng áp phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/01/2023).

Cỡ chữ