vanban.org

Bản án 02/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hà Giang, tỉnh Hà Giang Tuyên án 12/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 15/10/2022. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HS-ST
Ngày 12/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nông Thế Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Khuất Thị Thanh.

2. Ông Hứa Văn Chế.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn T Khánh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh H tham gia phiên toà: Bà Phùng Ngọc Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh H mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2022/TLST-HS ngày 28/12/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022, Thông báo thay đổi ngày, giờ xét xử vụ án hình sự số 01/TB-TA ngày 10/01/2023 đối với bị cáo:

VŨ VĂN T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 17/12/1976 tại tỉnh H; nơi cư trú: Tổ 07, phường Q, thành phố H, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn L, sinh năm 1942; con bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1949; anh, chị, em ruột: Có 03 anh em, bị cáo là con cả trong gia đình. Vợ: Thượng Thị O, sinh năm 1978; con: Có hai con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự: Ngày 16/8/2022 bị Công an xã N, thành phố H xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (Chưa chấp hành xong); nhân thân: Ngày 19/7/1997 bị Tòa án nhân dân thị xã H tuyên phạt 04 (Bốn) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, đã được xóa án tích; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/10/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh H. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Thượng Thị O, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ 07, phường Q, thành phố H, tỉnh H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 50 phút ngày 15/10/2022, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự - kinh tế - ma túy Công an thành phố H phát hiện, bắt quả tang Vũ Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Heroine) tại khu vực trước cửa nhà thuốc Trà Giang, số nhà 158, tổ 15, phường Nguyễn Trãi, thành phố H, tỉnh H và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

Quá trình điều tra đã chứng minh được: T sử dụng ma túy Heroine từ khoảng tháng 3/2022, hình thức sử dụng là cho ma túy vào trong xilanh rồi hút nước cất (Novocain) vào xilanh rồi lắc đều lên sau đó đưa vào cơ thể qua các ven mạch máu. Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 15/10/2022, Vũ Văn T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA-WAVE S, màu sơn đen, biển kiểm soát 23K1- 9632 (là xe của vợ T, tên Thượng Thị Oanh, SN: 1978, thường trú: Tổ 7, phường Q, thành phố H, tỉnh H) đi từ Bến xe khách thành phố H đến khu vực Khách sạn Hoa Long thuộc tổ 18, phường Nguyễn Trãi, thành phố H mục đích tìm mua ma túy (Heroine) để sử dụng. Đến nơi, T gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 30 tuổi (Hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch) đang đứng một mình có biểu hiện nghiện ma túy, T tiến lại gần hỏi “Ở đây có bán ma túy không?”, người đàn ông hiểu ý nên trả lời: “Có, muốn mua bao nhiêu?”, T trả lời: “Mua một con”, người đàn ông hiểu ý T muốn mua 01 tép Heroine nên trả lời: “Một con giá ba trăm”, đồng thời người đàn ông nói: “Ở đây tao còn hai con”, do trên người T chỉ còn số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) nên T đặt vấn đề mua 02 tép Heroine của người đàn ông với giá là 500.000đ và người đàn ông đồng ý bán. T lấy số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) đưa cho người đàn ông này, người đàn ông đưa cho T 01 (Một) túi nilon màu trắng, bên trong có 02 (Hai) gói giấy bạc màu vàng, do tin tưởng bên trong là ma túy (Heroine) nên T không mở kiểm tra, cầm cất dấu vào túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về hướng trung tâm Thành phố H, mục đích đi đến hiệu thuốc tìm mua xilanh về để sử dụng ma túy. Khi T đi đến khu vực hiệu thuốc Trà Giang thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự - kinh tế - ma túy Công an thành phố H phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan.

Ngày 15/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiến hành mở niêm phong và cân tịnh khối lượng chất bột màu trắng (Nghi là heroine) thu giữ của Vũ Văn T 01 (Một) gói nilong màu trắng bên trong có 02 gói giấy loại giấy bạc màu vàng: gói thứ nhất có kích thước 1,5cm x 1,2cm bên trong có chứa chất bột màu trắng có khối lượng là 0,137 gam (Kí hiệu A1); gói thứ hai có kích thước 1,5cm x 1cm bên trong có chứa chất bột màu trắng có khối lượng là 0,153 gam (Kí hiệu A2).

Tại Bản kết luận giám định số: 353/KL-KTHS ngày 22/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H, kết luận: Các mẫu chất bột màu trắng dạng cục gửi giám định ký hiệu A1, A2 đều là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng là 0,29g (Không phẩy hai mươi chín gam). Heroine nằm trong danh mục I, mục IA, số thứ tự 9, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

* Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh H đã thu giữ các vật chứng và chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà iang quản lý theo quy định của pháp luật, gồm:

- 01 (Một) phong bì màu trắng niêm phong kín, mặt trước của phong bì thư in chữ: “CÔN AN TỈNH H, CÔNG AN THÀNH PHỐ, Số:.../...." và ghi chữ "VỎ BAO GÓI VÀ PHON BÌ NIÊM PHON CŨ ”. Mặt sau có 03 (Ba) hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong.

- 01 (Một) phong bì màu trắng niêm phong kín, mặt trước phong bì thư có in chữ: “CÔN AN TỈNH H, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Số: .../KTHS" và ghi chữ "Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A1, A2”, mặt sau có 02 (Hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia.

Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh H đã thu giữ vật chứng và trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng theo Quyết định xử lý vật chứng số: 19/QĐ-CQĐT ngày 03/11/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh H những vật chứng sau: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE S, màu sơn đen, biển kiểm soát 23K1-9632 đã qua sử dụng cho bà Thượng Thị O (SN 1978; thường trú: Tổ 07, phường Q, thành phố H, tỉnh H). Sau khi nhận lại tài sản, bà O không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa bị cáo Vũ Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ chứng minh do cơ quan Điều tra thu thập được về thời gian, địa điểm, hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cũng như vật chứng thu giữ được.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H sau phần xét hỏi và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội danh, điều luật như nội dung cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

1. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 15/10/2022.

2. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị xử lý theo quy định.

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo thực hiện quyền nói lời sau cùng trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo nhận thấy việc làm của bị cáo đã sai và vi phạm pháp luật, bị cáo bị xử lý là thỏa đáng. Bị cáo xin được hưởng khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, không có khiếu nại, tố cáo, do đó hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều hợp pháp.

Căn cứ định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra (BL 77-106) và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 15/10/2022, tại khu vực trước cửa nhà thuốc Trà Giang, số nhà 158, tổ 15, phường Nguyễn Trãi, thành phố H, tỉnh H, bị cáo Vũ Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,29 gam (Không phẩy hai mươi chín gam) chất ma túy (Heroine), mục đích để sử dụng.

Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Như vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, đề nghị mức hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội và pháp luật xã hội chủ nghĩa. Ma túy là loại độc dược có tính gây nghiện cao nên Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng các chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, hoàn toàn nhận thức được tính nguy hiểm của ma túy và tác hại của nó làm cho người sử dụng bị lệ thuộc, bị suy giảm về sức khỏe, trí tuệ, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của bản thân, nghiện ma túy còn làm nguyên nhân chính làm phát sinh nhiều tội phạm khác.

Về nhân thân: Bị cáo T năm 1997 bị Tòa án nhân dân thị xã Hà Giang tuyên phạt 04 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng (Đã được xóa án tích). Ngày 16/8/2022 bị Công an xã N, thành phố H xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (Chưa chấp hành xong) nhưng bị cáo không lấy đó là bài học để rèn luyện bản thân. Hành vi của bị cáo đã gây nên sự bất bình trong nhân dân, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội vì vậy việc xử lý bị cáo trước pháp luật là hoàn toàn thoả đáng và xử phạt bị cáo bằng mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vũ Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu 1 phần hoặc toàn bộ tài sản". Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện bị cáo là lao động tự do và nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE S, màu sơn đen, biển kiểm soát 23K1-9632 đã qua sử dụng, tên chủ xe: Thượng Thị O; sinh năm: 1978; địa chỉ: Tổ 07, phường Q, thành phố H, tỉnh H. Qua các tài liệu trong hồ sơ và lời khai tại phiên tòa của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thượng Thị O đã xác định tài sản chiếc xe mô tô thuộc sở hữu của bà Thượng Thị O, bà O có đề nghị nhận lại tài sản trên. Xét thấy việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu là phù hợp với quy định pháp luật do vật chứng trên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh H đã trả lại vật chứng cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng theo Quyết định xử lý vật chứng số: 19/QĐ-CQĐT ngày 03/11/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh H là phù hợp nên cần được HĐXX chấp nhận.

Đối với 01 (Một) phong bì màu trắng niêm phong kín, mặt trước của phong bì thư in chữ: “CÔN AN TỈNH H, CÔNG AN THÀNH PHỐ, Số:.../...." và ghi chữ "VỎ BAO ÓI VÀ PHON BÌ NIÊM PHON CŨ ”. Mặt sau có 03 (Ba) hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01 (Một) phong bì màu trắng niêm phong kín, mặt trước phong bì thư có in chữ: “CÔN AN TỈNH H, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Số: .../KTHS" và ghi chữ "Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A1, A2”, mặt sau có 02 (Hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia. Xét thấy những vật chứng trên là vật chứng nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và đồ vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Ngày 30/11/2022, Công an thành phố H, tỉnh H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Văn T về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ bằng hình thức phạt cảnh cáo là phù hợp.

Đối tượng người đàn ông khoảng 30 tuổi, T khai bán ma túy (Heroine) cho T vào ngày 15/10/2022 tại khu vực Khách sạn Hoa Long thuộc tổ 18, phường Nguyễn Trãi, thành phố H, tỉnh H (Hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh H tiếp tục xác minh làm rõ, đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 của Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 15/10/2022.

3. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì màu trắng niêm phong kín, mặt trước của phong bì thư in chữ: “CÔN AN TỈNH H, CÔNG AN THÀNH PHỐ, Số:.../...." và ghi chữ "VỎ BAO ÓI VÀ PHON BÌ NIÊM PHON CŨ ”. Mặt sau có 03 (Ba) hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01 (Một) phong bì màu trắng niêm phong kín, mặt trước phong bì thư có in chữ: “CÔN AN TỈNH H, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Số: .../KTHS" và ghi chữ "Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A1, A2”, mặt sau có 02 (Hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H ngày 05/01/2023).

4. Án phí: Bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ