vanban.org

Bản án 02/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 26/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Quang N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Quang N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (19/6/2023). Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐỖ QUANG NG - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Quang N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 02/2023/HS-ST
Ngày: 26 - 10 - 2023
ơ

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lò Thị Hiêng

Bà Hoàng Cúc Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Quang N

Tên gọi khác: Không

Sinh năm: 1968 tại tỉnh Điện Biên

Nơi thường trú: Tồ dân phố X, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.

Nơi ở hiện tại: Tồ dân phố Y, phường H, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/10; Con ông: Đỗ Quang C (đã chết) và con bà Nguyễn Thị T; Có vợ: Nguyễn Thị A và có 02 con (con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 2000); Tiền án: không, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 147/2017/HSST ngày 30/11/2017, Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. (Bị cáo đã chấp hành xong bản án, được coi là đương nhiên xóa án tích). Bị tạm giữ từ ngày 19/6/2023 sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị A - sinh năm 1966. Địa chỉ: Tổ dân phố Y, phường H, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 20 phút ngày 19/6/2023, tổ công tác Công an phường N, thành phố Điện Biên Phủ phối hợp với Đội CSĐTTP về Kinh tế và Ma túy, Công an thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đang làm nhiệm vụ tại khu vực Tổ dân phố A, phường N, phát hiện Đỗ Quang N đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 27Z1-045.xx có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra, N tự khai nhận đang cất giấu ma túy và tự giác đưa từ lòng bàn tay trái của mình 01 gói được gói ngoài bằng nilon màu trắng, tiếp đến là lớp giấy màu trắng, bên trong có chứa các cục chất bột thể, màu trắng đục ra giao nộp. Đỗ Quang N khai nhận đó là ma túy (Heroine), N mua về để sử dụng cho bản thân.

Quá trình điều tra Đỗ Quang N khai nhận: Số ma túy bị thu giữ là do N vừa mua của người đàn ông không quen biết ở khu vực Tổ dân phố B, phường N với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo cầm trong lòng bàn tay trái của mình rồi điều khiển xe đi về thì bị phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói bên trong có chứa các cục chất bột thể rắn, màu trắng đục, khối lượng 0,22 gam; xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 27Z1-045.xx kèm chìa khóa của xe và Giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị A.

Tại bản kết luận giám định số 1007/KL-KTHS ngày 27/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Khối lượng vật chứng là 0,22 gam. Mẫu các cục chất bột màu trắng đục gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroin (Heroine). Hoàn lại đối tượng giám định có tổng khối lượng 0,12 gam có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Tại bản cáo trạng số 146/CT-VKSTPĐBP ngày 03/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố bị cáo Đỗ Quang N về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38/BLHS: Xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,12 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh giấy màu trắng không có giá trị sử dụng. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị xe mô tô BKS 27Z1-045.xx. Trả lại cho bà Nguyễn Thị A ½ giá trị chiếc xe này.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì về phần luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, bị cáo không bào chữa gì cho hành vi của mình.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để cho bị cáo có cơ hội sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy niêm phong lại vật chứng, Kết luận giám định...Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 12 giờ 20 phút ngày 19/6/2023 tại khu vực Tổ dân phố A, phường N, thành phố Điện Biên Phủ, Đỗ Quang N đã có hành vi cất giấu trái phép 0,22 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đa truy tố̃ đối vớ i bị cáo là có căn cứ pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52/BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

Về nhân thân: Bị cáo bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2004. Năm 2017 bị Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 31/8/2018 bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án, được coi là đương nhiên xóa án tích. Tuy nhiên do thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân nên vẫn không từ bỏ được ma túy, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo phạm tội.

Hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo nên hội đồng xét xử chấp nhận. Cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục, cho bị cáo có thời gian cai nghiện để trở thành công dân tốt, có ý thức tuân thủ pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng... Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, lao động tự do không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có khả năng thi hành.

. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

Đối với 0,22 gam Heroine thu giữ của bị cáo, sau khi gửi toàn bộ giám định còn lại 0,12 gam vật chứng còn lại của vụ án, là vật Nhà nước cấm tàng trữ; 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh giấy màu trắng là vật dùng gói ma túy không có giá trị, không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Đối với chiếc xe mô tô (xe máy) thu giữ của bị cáo nhãn hiệu Honda Vision BKS 27Z1-045.xx kèm chìa khóa của xe và Giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị A là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội. Bị cáo và bà Nguyễn Thị A cho rằng đây là tài sản riêng của bà A. Tuy nhiên, không có tài liệu chứng cứ chứng minh. Theo các tài liệu có trong hồ sơ, chiếc xe này mua trong thời kỳ hôn nhân, là tài sản chung của bị cáo và vợ, bà A không biết và không có lỗi trong việc bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106/BLTTHS cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của chiếc xe kèm giấy tờ xe và trả lại cho đồng sở hữu – bà A ½ giá trị chiếc xe này.

. Các vấn đề khác: Đối với đối tượng bị cáo khai đã bán ma túy, quá trình điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập nên hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đều hợp pháp.

. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106, Điều 331, 333, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Quang N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Quang N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (19/6/2023).

2. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 0,12 gam Heroine vật chứng còn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh giấy màu trắng. (Đã niêm phong)

-

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision; Màu sơn: Trắng, bạc, đen; Số khung: RLHJF3308CY1846xx; Số máy: JF33E01847xx; Biển kiểm soát: 27Z1-045.xx. Xe đã qua sử dụng kèm theo 01 khóa xe; 01 Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số: 0030xx do Công an huyện T, tỉnh Điện Biên cấp ngày 27/9/2012, tên chủ xe Nguyễn Thị A (đăng ký chiếc xe biển kiểm soát 27Z1-045.xx). Trả lại cho bà Nguyễn Thị A ½ giá trị chiếc xe này. (Vật chứng đã được Công an thành phố Điện Biên Phủ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2023).

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/10/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ