vanban.org

Bản án 02/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 10/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Thanh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Dương Thanh L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2022. Về xử lý vật chứng:Áp dụng điểm a và c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Thanh L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Thanh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LĐ
Bản án số: 02/2023/HS-ST
Ngày: 10 - 01 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐL - TỈNH LĐ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Trương Minh Thọ

+ Bà Trần Thị Ngọc Kim

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL - tỉnh LĐ tham gia phiên tòa: Ông Đinh Đăng Nghĩa - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 01 năm 2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 273/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 267/2022/QĐXXST - HS ngày 28/12/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Thanh L, sinh năm: 1989, tại: Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số 27 hẻm HVTh, Phường 5, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông: Dương Thanh L, sinh năm: 1959 và bà: Dương Thị Kim A, sinh năm: 1960; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 27/6/2022.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1990. Địa chỉ: Số 35/17 Ph ĐPh, Phường 1, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

- Người chứng kiến: Bà Mai Thị Kim O, sinh năm: 1966. Địa chỉ: Số 64/9 LG, Phường 9, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

(Bị cáo có mặt; người làm chứng và người chứng kiến vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Thanh L là đối tượng sử dụng ma túy đá từ năm 2021. Khoảng tháng 4/2022, L đi đến Quận 8, thành phố HCM gặp một người tên H (không rõ nhân thân lai lịch), H dẫn L đi mua của một người lạ (không rõ nhân thân lai lịch) ở một con hẻm nhỏ tại Quận 8, thành phố HCM, được 40 gói ma túy đá với giá 3.000.000 đồng, mục đích để sử dụng. Sau khi có mua được ma túy, L đã sử dụng hết 24 gói, còn lại 16 gói L cất giấu trong 02 hộp nhựa để trong túi quần. Chiều ngày 27/6/2022, L điều khiển xe mô tô hiệu Honda SH biển số 49B1 - 718.0 chở bạn là Nguyễn Thanh H đi ăn, sau đó L có ý định sử dụng ma túy nên đi tìm một người bạn tên Ph, có nick zalo là “BigBabo” mượn dụng cụ để sử dụng ma túy. Khi đi L chở H đi cùng, do không muốn H biết việc L mượn dụng cụ để sử dụng ma túy nên khi đi gần đến cổng nhà xe TB ở đường LG, Phường 9, thành phố ĐL thì L dừng xe và nói H đứng đây đợi L. Sau đó, L điều khiển xe đến khu vực ngã ba trước nhà số 28 LG, L lấy điện thoại chuẩn bị liên lạc với Ph thì bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố ĐL kiểm tra phát hiện bắt quả tang L đang tàng trữ 16 gói nylon dạng túi zip bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (BL: 36; 37; 60 – 7).

Tang vật thu giữ:

- 16 gói nylon dạng túi zip bên trong chứa chất tinh thể màu trắng.

- 02 hộp thuốc Vitamin C.

- 01 xe mô tô hiệu Honda SH biển số 49B1-718.0.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7.

- 01 túi nylon màu trắng bên trong chứa 13 túi nylon nhỏ dạng túi zip.

- 05 ống thủy tinh hình tròn đã bị bể.

- 01 hộp điện thoại Iphone 7 (BL: 37).

Tại kết luận giám định số 734/KL-KTHS ngày 01/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LĐ kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong mười sáu gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, khối lượng 3,2996g (ba phẩy hai chín chín sáu gam) loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. (BL: 49; 50).

Tại bản cáo trạng số 255/CT-VKSĐL ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL truy tố bị cáo Dương Thanh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Thanh L khai nhận, bản thân bị cáo có sử dụng ma túy nên có mua ma túy cất giữ để sử dụng dần. Vào chiều ngày 27/6/2022, trước nhà số 28 LG thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố ĐL kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang L đang cất giữ trong túi quần 16 gói nylon dạng túi zip bên trong chứa chất ma túy như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác; bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về cáo trạng truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Dương Thanh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Thanh L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đả qua giám định; 02 hộp thuốc Vitamin C; 01 túi nylon màu trắng bên trong chứa 13 túi nylon nhỏ dạng túi zip; 05 ống thủy tinh hình tròn đã bị bể và 01 hộp điện thoại Iphone 7. Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 và 01 xe mô tô hiệu Honda SH biển số 49B1-718.0.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Dương Thanh L: Dương Thanh L là đối tượng sử dụng ma túy, tháng 4/2022 Lộc xuống thành phố HCM gặp H (chưa rõ nhân thân, lai lịch), thì H dẫn L đến mua của một người (không rõ nhân thân, lai lịch) 40 gói nylon bên trong chứa ma túy với giá 3.000.000 đồng mục đích để sử dụng, L sử dụng hết 24 gói ma túy còn lại 16 gói L cất trong hộp nhựa dấu trong túi quần. Đến khoảng 19 giờ ngày 27/6/2022, tại trước nhà 28 LG, Phường 9, ĐL, khi L đang đứng đợi bạn thì bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố ĐL kiểm tra thu giữ trong túi quần L đang mặc có 16 gói nylon bên trong chứa chất ma túy. Bị cáo L khai nhận toàn bộ ma túy bị phát hiện thu giữ là của L mua về để sử dụng dần.

Tại Kết luận giám định số 734/KL-KTHS ngày 01/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LĐ xác định: Mẫu tinh thể đựng trong 16 (mười sáu) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,2996g (ba phẩy hai chín chín sáu gam) loại Methamphetamine.

Xét thấy, bị cáo Dương Thanh L là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và là đối tượng sử dụng ma túy. Bản thân bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng là đối tượng sử dụng ma túy và để có ma túy sử dụng bị cáo vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Hành vi của Dương Thanh L không chỉ vi phạm pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương mà còn là một trong những nguyên nhân góp phần gây ra những tệ nạn xã hội khác. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; lời khai của bị cáo, của người chứng kiến trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận hành vi của Dương Thanh L phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 255/CT-VKSĐL ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ: Do bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình; bản thân bị cáo đang điều trị bệnh HIV dẫn đến nhiễm trùng và ký sinh trùng (B20), nên áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

Trong vụ án này còn có đối tượng tên “H” (không rõ nhân thân, lai lịch) là người đã dẫn L đi mua ma túy và 01 người bán ma túy cho L (không rõ nhân thân, lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố ĐL tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra đã thu giữ tang vật gồm:16 gói nylon dạng túi zip bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, qua giám định xác định là chất ma túy, là chất cấm lưu hành không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với và 02 hộp thuốc Vitamin C; 01 túi nylon màu trắng bên trong chứa 13 túi nylon nhỏ dạng túi zip; 05 ống thủy tinh hình tròn đã bị bể và 01 hộp điện thoại Iphone 7, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Riêng 01 xe mô tô hiệu Honda SH biển số 49B1-718.0; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, không liên quan đến việc giải quyết vụ án và thi hành án nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Dương Thanh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Dương Thanh L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2022.

2.Về xử lý vật chứng:Áp dụng điểm a và c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

2.1. Tịch thu tiêu hủy tang vật gồm:

- 01 (một) phong bì niêm phong có chữ ký của Phạm Thị D, Lại Thanh Anh T, Hoàng Văn B và hình đấu tròn màu đỏ của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh LĐ, đựng bao gói vật trước giám định.

- 01 (một) phong bì niêm phong có chữ ký của Phạm Thị D, Lại Thanh Anh T, Hoàng Văn B và hình đấu tròn màu đỏ của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh LĐ, đựng mẫu hoàn lại sau giám định: 3,1111g.

- 01(một) túi nylon dạng túi zip, bên trong chứa 13 túi nylon dạng túi zip, kích thước 1,5x1,5cm.

- 01 (một) hộp thuốc vitamine C sủi bọt, hình trụ tròn, hiệu Mon’C, có nắp đậy, được niêm phong vào một phong bì, có chữ ký xác nhận của Trần Minh Đ, Phạm Ngọc Kh, Dương Thanh L, Ngô Văn Nh, Mai Thị Kim O và Nguyễn Thanh H.

- 05 (năm) ống thủy tinh, một đầu được uống cong.

- Một hộp điện thoại Iphone 7, màu đỏ.

2.2. Trả cho bị cáo L 01 (một) xe máy hiệu Honda SH 150i màu bạc đen, biển số 49B1-7180 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus, màu bạc, bên trong có gắn sim số 0972.823.88 và 01 điện thoại hiệu Iphone 7, màu đỏ, bên trong có gắn sim số 0354.591.76 (được niêm phong trong 01 phong bì có chữ ký xác nhận của Dương Thanh L, Đỗ Ngọc S, Trần Hải T và Thái Anh T).

(Theo biên bản giao, nhận tang vật ngày 27/12/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố ĐL và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố ĐL).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Dương Thanh L phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. /.

Cỡ chữ