vanban.org

Bản án 02/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng Tuyên án 16/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Vĩnh B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” .

Xử phạt Bùi Vĩnh B 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 16/01/2023. Giao bị cáo Bùi Vĩnh B về UBND phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Vĩnh B phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 L…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Vĩnh B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02 /2023/HS-ST
Ngày 16-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Thức

Ông Mai Văn Du

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Vân - Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Ông Tề Hoàng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Bùi Vĩnh B, sinh ngày: 15/01/1994; nơi sinh: Quảng Nam; nơi ĐKNKTT; chỗ ở: Tổ 09, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ tên cha: Bùi Vĩnh Ph; họ tên mẹ: Ngô Thị Kim Y; gia đình có 02 người con, bị cáo là con đầu; vợ: Nguyễn Thị H; có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1937; địa chỉ: Tổ 27, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng (đã chết). Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị B có ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm: 1960; trú tại: Tổ 26, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng; bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm: 1988; địa chỉ: Tổ 27, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng; bà Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm: 1992; địa chỉ: Tổ 27, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Ngô Thị Kim Y, sinh năm: 1971; địa chỉ: Tổ 27, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Hồ T, sinh năm: 1960; địa chỉ: Số 50 đường T, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 2000; địa chỉ: Số 45 đường T,

phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 10 phút, ngày 15/9/2022, Bùi Vĩnh B điều khiển xe mô tô BKS: 43M1-3534, hiệu Honda Air Blade lưu thông trên đường T, quận C, TP. Đà Nẵng, theo hướng từ đường H đến đường N. Khi đến gần khu vực giao nhau đường T và Ng thuộc phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng, B quan sát nhìn thấy vạch kẻ đường dành cho người đi bộ phía trước, có bà Nguyễn Thị B đi bộ tới sát mép đường phía bên phải và đang bước từ vỉa hè xuống lòng đường để qua đường. Lúc này, bà B tiếp tục đi bộ sang đường, còn B tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về phía trước nhưng không giảm tốc độ nên khoảng cách giữa xe mô tô và bà B quá gần, làm phần đầu phía trước của xe mô tô tông trực tiếp và đẩy bà B di chuyển về phía trước một đoạn rồi ngã xuống mặt đường; sau đó xe mô tô tiếp tục di chuyển về phía trước khoảng 2m rồi dừng lại. Hậu quả: Bà B bị thương được đưa đi cấp cứu đến 12 giờ 45 cùng ngày thì tử vong.

- Theo Kết luận giám định số: 101/KLPY-KTHS ngày 07/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Đà Nẵng xác định được như sau: Vùng thái dương đỉnh bên trái có vết thâm tím da cơ, KT: (2x1,5)cm. Vùng đỉnh đầu có vết thâm tím da cơ, KT: (2,5x1,5)cm. Mặt trong 1/3 dưới cánh tay và 1/3 trên cẳng tay bên trái có nhiều vết xây xát, thâm tím da cơ, nằm trên diện (15x5)cm. Vùng khuỷu tay bên trái có vết xây xát, rách đứt da cơ đã khâu chỉ, dài 5cm. Mặt ngoài cổ tay bên trái có vết xây xát, thâm tím da cơ, KT: (2x2)cm. Mặt ngoài khớp gối bên trái có nhiều vết xây xát, thâm tím da cơ, KT: (8x7)cm. Vùng mắt cá ngoài và gót chân bên trái có nhiều vết xây xát, thâm tím da cơ, nằm trên diện (6x7)cm. Vùng cổ chân bên phải có vết thâm tím da cơ, KT: (6x5)cm. Hệ thống xương khớp gãy kín phức tạp vùng xương cổ chân bên phải.

Kết luận giám định: Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị B là đa chấn thương.

- Theo kết quả khám nghiệm phương tiện ghi nhận các dấu vết liên quan đến vụ tai nạn giao thông để lại trên xe mô tô BKS: 43M1-3534:

+ Vết 1: Gương chiếu hậu bên trái bị gãy và rơi ra khỏi vị trí ban đầu, còn lại gọng gương trên xe.

+ Vết 2: Áp nhựa phía trước đầu xe có vết va chạm làm nứt nhựa, xước nhựa tróc sơn không liên tục diện (20x17)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 62cm, vết va chạm có chiều hướng từ trước ra sau.

+ Vết 3: Hệ thống đèn chiếu sáng phía trước và đèn tín hiệu xin chuyển hướng phía trước bị nứt nhựa không liên tục, vết va chạm làm cho các khớp nối của đèn với cánh manh chắn gió phía trước hai bên bị bung ra khỏi vị trí ban đầu.

Bản cáo trạng số 03/CT-VKSCL ngày 26/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Bùi Vĩnh B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Vĩnh B từ 06 đến 09 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận xong.

- Về xử lý vật chứng:

+ Đối với xe mô tô BKS: 43M1-3534 là tài sản của bà Ngô Thị Kim Y, mẹ ruột của B. Bà Y giao xe cho B sử dụng làm phương tiện đi lại nhưng không biết Bảo sử dụng và thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô BKS: 43M1-3534, kèm theo Giấy đăng ký xe số 004151 cho chủ sở hữu là có cơ sở.

+ Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng A1, B2 số 480135005374 mang tên Bùi Vĩnh B là giấy tờ cá nhân của bị cáo; đề nghị tiếp tục tạm giữ và chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ để phục vụ xét xử.

+ Đối với 01 VCD ghi dữ liệu diễn biến vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra ngày 15/9/2022 tại khu vực giao nhau đường T và N, phường K, quận C, TP. Đà Nẵng là tài liệu, chứng cứ tiếp tục lưu trữ theo hồ sơ vụ án

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo Bùi Vĩnh B nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là lao động chính trong gia đình, có con nhỏ nên cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo lo cho gia đình và phụ giúp cho gia đình bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường. Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 10 phút ngày 15/9/2022, Bùi Vĩnh B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 43M1-3534 lưu thông theo hướng từ đường H đi về đường N. Khi đi đến gần khu vực giao nhau giữa đường T và Ng, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng do B điều khiển xe không giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ qua đường tại nơi có vạch kẻ dành cho người đi bộ không đúng quy định tại khoản 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ nên đã tông vào bà Nguyễn Thị B. Hậu quả: Bà B bị thương được đưa đi cấp cứu, đến 12 giờ 45 cùng ngày thì tử vong. Hội đồng xét xử xác định hành vi của Bùi Vĩnh B đã cấu thành tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như cáo trạng số 03/CT-VKSCL ngày 26/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Bùi Vĩnh B đã được cấp giấy phép lái xe hạng A1, B2 nên phải biết được tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ. Bùi Vĩnh B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 43M1-3534, khi đi đến gần khu vực giao nhau giữa đường T và đường Ng, bị cáo nhìn thấy vạch kẻ đường dành cho người đi bộ và nhìn thấy bà Nguyễn Thị B từ vỉa hè bên phải đi bộ xuống lòng đường nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ nhưng bị cáo không giảm tốc độ, không nhường đường nên phần đầu phía trước của xe mô tô tông trực diện và đẩy bà B di chuyển về phía trước một đoạn rồi ngã xuống mặt đường. Hậu quả: Bà B tử vong. Lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Do vậy, đối với bị cáo cần phải xử phạt nghiêm mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình hình sự: Không có

Về tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường nhưng bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 10.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn bãi nại về phần dân sự và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đồng thời, bị cáo là lao động chính trong gia đình, có con nhỏ sinh năm 2017 và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo mà nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo về địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục và ấn định thời gian thử thách cũng thỏa đáng.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Vĩnh B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự và đề nghị mức hình phạt từ 06 đến 09 tháng tù. Như phân tích ở trên, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, là lao động chính trong gia đình, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo mà nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo để thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn bãi nại và không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xét.

Về xử lý vật chứng:

- Cơ quan CSĐT Công an quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng trả lại xe mô tô biển kiểm soát 43M1-3534 cho chủ sở hữu là bà Ngô Thị Kim Yến là phù hợp.

- Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng A1, B2 số 480135005374 mang tên Bùi Vĩnh B, do Sở Giao thông Vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 30/12/2013 là giấy tờ cá nhân của B nên trả lại cho Bùi Vĩnh B.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Vĩnh B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” .

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Bùi Vĩnh B 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 16/01/2023.

Giao bị cáo Bùi Vĩnh B về UBND phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên: Trả lại cho Bùi Vĩnh B 01 Giấy phép lái xe hạng A1, B2 số 480135005374, mang tên Bùi Vĩnh B, do Sở Giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 30/12/2013.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 27/12/2022).

3. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng đại diện hợp pháp của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ