- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn N tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HS-ST Ngày 13-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐI ̣NH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Ngọc Thanh.
2. Ông Trần Văn Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký T òa án nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh , tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn N, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 23/3/1980, tại xã P, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn B, xã P, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Viê ̣t Nam ; Con ông: Phạm Khoa Th (đã chết); Con bà: Trịnh Thị M, sinh năm: 1953; Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ 2; Bị cáo có vợ là Mai Thị Đ, sinh năm 1990, có 01 con sinh năm 2011; Tiền án: Không.
Tiền sự: 01 tiền sự - Ngày 15/02/2022, bị Công an huyện Thiệu Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, phạt tiền 3.500.000 đồng (Quyết định số 0017802/QĐ-XPHC). Bị cáo chưa nộp tiền phạt.
Nhân thân:
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2012/HSST ngày 24/9/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định xử phạt 18 tháng tù về tội cố ý gây thương tích. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/02/2014, đã được xóa án tích theo quy định của pháp luật.
- Ngày 20/7/2020, bị Công an thị trấn Thống Nhất, huyện Yên Định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, phạt tiền 1.500.000 đồng (Quyết định số 03/QĐ-XPHC). Bị cáo chưa nộp tiền phạt. Đến ngày 20/7/2021 là hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt. Đến thời điểm phạm tội, bị cáo đã được xóa tiền sự.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/9/2022 đến ngày 22/9/2022 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Yên Định. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Anh Trịnh Gia S, sinh năm: 1974, nơi cư trú: Thôn K, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
2. Chị Trịnh Thị H, sinh năm: 1971, nơi cư trú: Thôn K, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Người chứng kiến:
Anh Trịnh Hữu X, sinh năm: 1980, nơi cư trú: Thôn L, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 16/9/2022, Tổ công tác Công an huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Công an xã Y, huyện Yên Định trong khi làm nhiệm vụ tại khu vực thôn K, xã Y, huyện Yên Định đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Phạm Văn N. Khi bị kiểm tra Phạm Văn N đã vứt 01 túi nilon màu trắng viền đỏ bên trong có 02 gói giấy màu trắng, mỗi gói có chứa 01 cục chất bột màu trắng ngà xuống đường. Khai thác nhanh, N khai đây là ma túy loại Heroine, N mua về để sử dụng, tuy nhiên chưa kịp sử dụng thì bị Công an phát hiện. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với Phạm Văn N, đồng thời thu giữ và niêm phong số ma túy và các vật chứng có liên quan, gồm: 01 túi nilon màu đen bên trong có 02 xi lanh nhựa chưa qua sử dụng, 02 ống thủy tinh bên trong có chứa dung dịch, bên ngoài các ống thủy tinh có ghi Novocain 3%, 09 ống thủy tinh bên trong có chứa dung dịch, bên ngoài các ống thủy tinh có ghi Lidocain 2%, 24 ống thủy tinh bên trong có chứa dung dịch, bên ngoài các ống thủy tinh có ghi Dimedrol, là các dụng cụ để N dùng để sử dụng ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 3216/KL-KTHS ngày 21/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: 02 cục chất bột màu trắng ngà đựng trong gói giấy màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,103 gam loại Heroine.
Quá trình điều tra, Phạm Văn N đã thành khẩn khai nhận về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình. N khai: Do là người nghiện ma túy nên trước đây N đã nhiều lần đến quán “Bà già” ở khu phố E, thị trấn Vĩnh Lộc để mua ma túy loại Heroine của một người phụ nữ (N không biết họ, tên và tuổi cụ thể) về sử dụng. Vào chiều ngày 16/9/2022, N tiếp tục đi đến khu vực thị trấn Vĩnh Lộc để mua ma túy về sử dụng. Do trước đó ít ngày N đến quán “Bà già” mua ma túy nhưng người phụ nữ không bán ma túy cho N, nên lần này khi đến khu vực chùa Thông ở xã Ninh Khang, huyện Vĩnh Lộc thì N gặp một người nam giới mà trước đây N đã từng gặp mua ma túy với N ở quán “Bà già” (N không biết rõ họ, tên, tuổi và địa chỉ cụ thể), N đã đưa số tiền 400.000 đồng và nhờ người này đi mua hộ ma túy. Khoảng 20 phút sau, người nam giới quay lại và đưa cho N 01 túi nilon màu trắng viền đỏ, bên trong có 02 gói giấy màu trắng, mỗi gói có chứa 01 cục chất bột màu trắng ngà là ma túy loại Heroine. Sau đó, N đi về khu vực đường liên xã thuộc địa phận thôn K, xã Y để tìm nơi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ như đã nêu trên.
Quá trình điều tra, xác minh cho thấy tại khu phố E, thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Vĩnh Lộc có đối tượng Đặng Bích T, sinh năm 1987 bán quán ăn sáng thường gọi là quán “Bà già”, là đối tượng trong diện quản lý nghiệp vụ về ma túy của Công an huyện Vĩnh Lộc. Sáng ngày 17/9/2022, Đặng Bích T đã bị Công an huyện Vĩnh Lộc phát hiện bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hiện đang bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Lộc khởi tố điều tra về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Quá trình điều tra, xác minh T không thừa nhận bán ma túy cho N vào ngày 16/9/2022. N không trực tiếp mua ma túy tại quán “Bà già” mà nhờ một người nam giới mua. Quá trình điều tra xác minh không xác định được người nam giới mua ma túy cho N là ai, ở đâu nên chưa làm rõ được nguồn gốc số ma túy mà người nam giới này đã mua cho N. Ngoài lời khai của N thì không có tài liệu chứng cứ nào khác nên không có cơ sở xác định nguồn gốc ma túy đã bắt, thu giữ của N là do Đặng Bích T bán vào ngày 16/9/2022, nên không có cơ sở chuyển và nhập vụ án để điều tra làm rõ hành vi bán ma túy của Đặng Bích T trong cùng một vụ án, khi nào có căn cứ sẽ xem xét xử lý trong vụ án khác.
Đối với người nam giới đã mua ma túy cho N, do N khai không biết rõ họ, tên, tuổi và địa chỉ cụ thể, N cũng không cung cấp được các thông tin khác về nhân thân của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án, khi có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKSYĐ ngày 06/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh truy tố Phạm Văn N về tô ̣i “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Phạm Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp du ̣ng điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Văn N từ 18 đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy bị hoàn lại sau giám định, 01 túi nilon màu đen, 02 xi lanh nhựa chưa qua sử dụng, 02 ống thủy tinh bên trong có chứa dung dịch, bên ngoài các ống thủy tinh có ghi Novocain 3%, 09 ống thủy tinh bên trong có chứa dung dịch, bên ngoài các ống thủy tinh có ghi Lidocain 2% và 24 ống thủy tinh bên trong có chứa dung dịch, bên ngoài các ống thủy tinh có ghi Dimedrol. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
̀
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Thông qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo Phạm Văn N hoàn toàn thừa nhận: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 16/9/2022, tại khu vực đường liên xã thuộc thôn K, xã Y, huyện Yên Định, bị cáo Phạm Văn N đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,103 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân, thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết quả giám định ma túy cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã bị Công an huyện Thiệu Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa tiền sự lại tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận hành vi tàng trữ trái phép 0,103 gam ma túy loại Heroine của bị cáo Phạm Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố bị cáo theo tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và quan hệ pháp luật xâm phạm: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự xã hội, xâm phạm đến sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Vì vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, mới có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng chống tội phạm về ma tuý đang diễn ra hết sức phức tạp trên địa bàn hiện nay.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo đã 01 lần bị kết án, 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để trừng trị, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo được hoàn lại sau giám định là 0,088 gam Heroine và toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với các vật chứng gồm: 01 túi nilon màu đen, bên trong có 02 xi lanh nhựa chưa qua sử dụng; 02 ống thủy tinh bên trong có chứa dung dịch, bên ngoài các ống thủy tinh có ghi Novocain 3%; 09 ống thủy tinh bên trong có chứa dung dịch, bên ngoài các ống thủy tinh có ghi Lidocain 2%; 24 ống thủy tinh bên trong có chứa dung dịch, bên ngoài các ống thủy tinh có ghi Dimedrol: Đây là các đồ vật liên quan đến việc tàng trữ trái phép chất ma túy, xét thấy không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/9/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
- Số ma túy được hoàn lại sau giám định là 0,088 gam Heroine và toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong, tất cả được đựng trong 01 phong bì dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Hà Huy Hiếu và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.
- 01 túi nilon màu đen.
- 02 xi lanh nhựa chưa qua sử dụng.
- 02 ống thủy tinh bên trong có chứa dung dịch, bên ngoài các ống thủy tinh có ghi Novocain 3%.
- 09 ống thủy tinh bên trong có chứa dung dịch, bên ngoài các ống thủy tinh có ghi Lidocain 2%.
- 24 ống thủy tinh bên trong có chứa dung dịch, bên ngoài các ống thủy tinh có ghi Dimedrol.
Các vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, theo phiếu nhập kho số NK 12 ngày 07/12/2022.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Yên Định; - Công an huyện Yên Định; - Chi cục THADS Yên Định; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Lê Thị Dung |