- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN-TP.HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HS-ST Ngày 06/01/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN-TP.HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân
: Ông Nguyễn Duy Kiên
Ông Nguyễn Văn Đạo
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc
Sơn
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Lập Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn,
thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 276/2022/TLST-
HS ngày 20 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
275/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Xuân T, sinh năm 1971 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và
chỗ ở hiện nay: Thôn X Đ, xã Ph L, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; nghề
nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá : Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến B (đã chết)
và bà Nguyễn Thị ; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: -Tại bản án hình sự
sơ thẩm số 01/2011/HSST ngày 04/01/2011, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn,
thành phố Hà Nội xử phạt: 06 tháng tù, về tội “ Trộm cắp tài sản”, bản án đã
được xóa.
-Tại bản án hình sự sơ thẩm số 57/2019/HSST ngày 14/6/2019, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt: 09 tháng tù, về tội “ Trộm cắp tài sản”, bản án đã được xóa.
-Ngày 16/7/2007 UBND huyện Sóc Sơn có Quyết định số 2238/QĐ-
UBND về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm GDLĐXH số 03 với thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong.
-Ngày 04/01/2012, UBND huyện Sóc Sơn có Quyết định số 18/QĐ-UBND
về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm GDLĐXH số VI với thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08h ngày 16/9/2022, Nguyễn Xuân T đi xe buýt từ nhà đến khu vực
Thanh Xuyên, thành phố Phổ Yên, Thái Nguyên để mua ma túy. Tại đây, T gặp một người nam giới không quen biết đang đứng ở rìa đường quốc lộ 3, T đặt vấn đề mua 200.000đ ma túy loại hê rô in, người nam giới đồng ý nhận tiền và đưa lại cho T 02 túi ni lon chứa chất bột màu trắng. Sau khi mua được ma túy, T đi xe buýt về. Khi đi đến khu vực cầu Đa Phúc, thôn Sông Công, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, Hà Nội, T xuống xe và đi bộ tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị cơ quan Công an kiểm tra tạm giữ người cùng tang vật.
Tại kết luận giám định số 6558/KL-KTHS ngày 23/9/2022 của Phòng
KTHS-Công an thành phố Hà Nội kết luận:
- Chất bột màu trắng bên trong 02 túi ni lon thu giữ của Nguyễn Xuân T là
ma túy loại Hê rô in có khối lượng 0,224g.
Đối với người nam giới bán ma túy cho T, do T không biết cụ thể tên, tuổi,
địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ xử lý trong vụ án.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng
như nội dung vụ án đã được tóm tắt trên. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bản cáo trạng số 236/CT-VKS ngày 25/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân
huyện Sóc Sơn truy tố Nguyễn Xuân T, về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự .
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh
luận: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội
của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu,
chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy
tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ
luật hình sự và Điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Xuân T mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù. Thời hạn
tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về tang vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện
Sóc Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị
cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Ngày 16/9/2022 tại khu vực thôn Sông Công, xã Trung Giã, huyện Sóc
Sơn, thành phố Hà Nội, Nguyễn Xuân T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,224g
ma túy loại Hê rô in với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội
“ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c
khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự .
Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái
phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế
độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm nghiêm trọng đến an ninh trật tự công cộng, đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống cũng như làm ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Bộ luật hình sự đã quy định.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải. Do đó cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về nhân thân của bị cáo: Bản thân bị cáo đã có tiền án, tiền sự. Mặc dù các
tiền án, tiền sự của bị cáo đều đã được xóa nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu. Do vậy, căn cứ vào tính chất vụ án cũng như nhân thân của bị cáo thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật
hình sự quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bản thân bị cáo là con nghiện nên Hội đồng xét xử miễn không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn có thu giữ
của bị cáo 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của bị cáo và cán bộ giám định. Xét đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều
47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Xử phạt: Nguyễn Xuân T 18 (mười tám) tháng tù, về tội “ Tàng trữ trái
phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án phạt tù.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của Nguyễn
Xuân T và cán bộ giám định.
(Tình trạng tang vật như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh
sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc
Sơn).
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm cho Nhà nước.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo được quyền
kháng cáo.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nguyễn Duy Kiên Nguyễn Văn Đạo | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hằng |