vanban.org

Bản án 02/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 07/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào A G phạm tội “ Hủy hoại rừng”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thào A G: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt tạm giam ngày 28 tháng 7 năm 2023. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Buộc bị cáo Thào A G phải bồi thường thiệt hại tài sản về rừng với số tiền là: 17.088.750 đồng (Mười bảy triệu không trăm tá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào A Giàng - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào A G phạm tội “ Hủy hoại rừng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NẬM PỒ
TỈNH ĐIỆN BIÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HS-ST
Ngày 07/11/2023

NHÂ N DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Khoàng Văn Sơn

2.Ông Thùng Văn Quân

- Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Khôi - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 đối bị cáo:

Thào A G sinh ngày 10 tháng 6 năm 1985 tại xã Nàn Ma, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang; Nơi cư trú: Bản Huổi Púng, xã Pa Tần, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thào A V sinh năm 1960 và con bà Giàng Thị V sinh năm 1962; Có vợ: Lý Thị T sinh năm 1990; Có 03 con ; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án kết tội lần nào. Bị cáo Thào A G bắt tạm giam từ ngày 28 tháng 7 năm 2023 đến nay, có mặt.

- Người đại diện theo pháp luật: UBND xã Pa Tần, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên là Ông Lò Văn Thân Chủ tịch UBND, xã Pa Tần. Vắng mặt ( có đơn xin xét xử vắng mặt ).

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Pòong Văn Phong. Sinh năm 1979. Vắng mặt ( có đơn xin xét xử vắng mặt )

Nơi công tác: UBND xã Pa Tần, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

Anh Quàng Văn Hinh. Sinh năm 1980. Vắng mặt ( có đơn xin xét xử vắng mặt )

Nơi công tác: Hạt kiểm lâm huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

- Người bào chữa cho bị cáo Thào A Giàng: Ông Lường Văn Bình trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên tham gia tố tụng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng cuối tháng 12 năm 2021 bị cáo Thào A G cầm theo 01(một) con dao quắm và 01(một) máy cưa xăng cầm tay một mình lên khu vực rừng thuộc tiểu khu 427A, khoảnh 6, được quy hoạch là rừng phòng hộ theo Quyết định số 1208/QĐ – UBND ngày 21/12/2018 của UBND tỉnh Điện Biên, hiện đã được giao cho UBND xã Pa Tần, huyện Nậm Pồ, quản lý, bảo vệ. Mục đích chặt phá rừng lấy đất để làm nương. Trước khi chặt phá bị cáo Thào A G không hỏi các cấp chính quyền địa phương. Bị cáo Thào A G đã dùng dao quắm để chặt phá những cây gỗ nhỏ, thảm thực vật ở bên dưới sau đó dùng cưa máy chặt hạ những cây to. Trong thời gian 07 (bảy) ngày bị cáo Thào A G đã chặt phá xong.

Ngày 05 tháng 4 năm 2022 cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, đo đếm diện tích rừng bị chặt phá. Khu rừng mà bị cáo Thào A G chặt phá thuộc; tiểu khu 427A, khoảnh 6, loại rừng phòng hộ. Diện tích bị cáo Thào A G chặt phá là 6.698,46m2, diện tích rừng trên do UBND xã Pa Tần, huyện Nậm Pồ quản lý và bảo vệ.

Tại kết luận số 09/KL-GĐ ngày 11/7/2022 của giám định viên Tư pháp thuộc Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Điện Biên kết luận: Đám rừng bị phá có diện tích là 6.698,46m2 tại tiểu khu 427A, khoảnh 6 thuộc bản Pa Tần, xã Pa Tần, huyện Nậm Pồ. Vị trí rừng bị phá nêu trên là rừng tự nhiên, loại rừng phòng hộ, trạng thái rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo kiệt (ký hiệu TXK), nằm trong diện tích rừng đã được giao cho UBND xã Pa Tần, huyện Nậm Pồ để quản lý bảo vệ.

Bản kết luận định giá tài sản số: 28/KL- HĐĐGTS ngày 28 tháng 4 năm 2022 kết luận: Khối lượng 7,938m3 gỗ tròn từ nhóm V đến nhóm VIII có giá 15.876.000 đồng. Khối lượng 8,058m3 củi tận thu có giá 1.212.750 đồng. Tổng trị giá tài sản định giá là : 17.088.750 đồng ( Mười bảy triệu không trăm tám mươi tám nghìn bảy trăm năm mươi đồng).

Bản cáo trạng số: 67/CT-VKSNP ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ đã truy tố Thào A G để xét xử về tội: “ Hủy hoại rừng” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243; Điều 38; điểm b; s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Thào A G từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 243 BLHS đối với bị cáo; Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS; Điều 584; 585; 586 và Điều 589 BLDS buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại về rừng cho Nhà nước. Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Áp dụng Nghị Quyết 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch và án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Thào A G không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố cũng như phần luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đề nghị HĐXX xem xét đến điều kiện sinh sống của bị cáo dẫn đến nhận thức pháp luật có phần hạn chế; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng điểm b; s khoản 1; khoản 2 Điều 51 BLHS, xem xét xử phạt cho bị cáo Thào A G mức hình phạt từ 01 (một) năm đến 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù; đề nghị không áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 4 Điều 243 BLHS về hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí, đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự giá ngạch sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với nội dung truy tố trong Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Thào A G nhất trí với lời bào chữa và không có ý kiến bổ sung; không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi phạm tội bị cáo thấy: Tại phiên tòa bị cáo Thào A G khai: Vào khoảng cuối tháng 12 năm 2021 bị cáo Thào A G cầm theo 01(một) con dao quắm và 01(một) máy cưa xăng cầm tay một mình lên khu vực rừng thuộc tiểu khu 427A, khoảnh 6, được quy hoạch là rừng phòng hộ theo Quyết định số 1208/QĐ – UBND ngày 21/12/2018 của UBND tỉnh Điện Biên, hiện đã được giao cho UBND xã Pa Tần, huyện Nậm Pồ, quản lý, bảo vệ. Mục đích chặt phá rừng lấy đất để làm nương. Trước khi chặt phá bị cáo Thào A G không hỏi các cấp chính quyền địa phương. Bị cáo Thào A G đã dùng dao quắm để chặt phá những cây gỗ nhỏ, thảm thực vật ở bên dưới sau đó dùng cưa máy chặt hạ những cây to. Trong thời gian 07 (bảy) ngày bị cáo Thào A G đã chặt phá xong. Do đó HĐXX có đủ căn cứ kết luận bị cáo Thào A G đã phạm tội “ Hủy hoại rừng” theo quy định tại c khoản 1 Điều 243 BLHS.

Việc VKSND huyện Nậm Pồ truy tố bị cáo Thào A G về tội “ Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 BLHS là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật, bị cáo không bị oan sai.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án kết tội lần nào.

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo Thào A G đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho Nhà nước với số tiền là 5.000.000 đồng, đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b; s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Thào A G không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của BLHS.

Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo thấy: Đây là vụ án nghiêm trọng về hủy hoại rừng, mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hủy hoại rừng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý, bảo vệ rừng, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế. Do vậy cần xử lý bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Thào A G từ 04 (bốn) năm tù đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tù. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là không phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên không xem xét xử phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS có căn cứ nên HĐXX cần áp dụng. Đối với áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS không có căn cứ nên không áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét xử phạt cho bị cáo Thào A G mức hình phạt tù 01(một) năm tù đến 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Hội đồng xét thấy không có căn cứ và không phù hợp nên không áp dụng.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 243 BLHS “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 20.000.000đ đến 100.000.000đ ”. Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát, người bào chữa về việc không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS; Điều 584; 585; 586 và Điều 589 BLDS. Buộc bị cáo Thào A Giàng phải bồi thường số tiền là : 17.088.750 đồng. Ghi nhận bị cáo Thào A G tự nguyện bồi thường thiệt hại tài sản rừng cho Nhà nước số tiền là 5.000.000 (năm triệu) đồng, còn phải bồi thường tiếp số tiền là: 12.088.750 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định.

Về xử lý vật chứng: Đối với con dao quắm và máy cưa xăng cầm tay mà Thào A Giàng đã sử dụng để chặt phá rừng. Bị cáo Thào A G khai sau khi chặt phá xong, dao quắm và máy cưa hỏng đã bán sắt vụn cho một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu chuyên mua sắt vụn nên Cơ quan điều tra Công an huyện Nậm Pồ không thu giữ được. Đối với toàn bộ sản lượng gỗ, củi tận thu ở hiện trường tiểu khu 427A, khoảnh 6 thuộc bản Pa Tần, xã Pa Tần do chi phí vận chuyển về bảo quản vượt quá giá trị bán đấu giá. Hạt kiểm lâm huyện Nậm Pồ đã giao cho UBND xã Pa Tần, huyện Nậm Pồ quản lý bảo vệ và cho tự phân hủy để cải tạo đất rừng. Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xử lý.

Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Có giấy chứng nhận hộ nghèo do UBND xã Pa Tần cấp. Ngày 25 tháng 11 năm 2023 bị cáo Thào A G đã có đơn đề nghị miễn án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; HĐXX quyết định cần miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự giá ngạch sơ thẩm cho bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát; Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa; không khiếu nại hoặc ý kiến gì. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 243, Điều 38, khoản 1 Điều 48; điểm b; s khoản 1 Điều 51 BLHS; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 BLTTHS; Áp dụng Điều 584; 585; 586 và Điều 589 BLDS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào A G phạm tội “ Hủy hoại rừng”.

2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thào A G: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt tạm giam ngày 28 tháng 7 năm 2023.

3.Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Buộc bị cáo Thào A G phải bồi thường thiệt hại tài sản về rừng với số tiền là: 17.088.750 đồng (Mười bảy triệu không trăm tám mươi tám nghìn bảy trăm năm mươi đồng ). Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường số tiền là 5.000.000 (năm triệu) đồng. Bị cáo Thào A G còn phải bồi thường tiếp số tiền là: 12.088.750 đồng ((Mười hai triệu không trăm tám mươi tám nghìn bảy trăm năm mươi đồng) để nộp sung ngân sách Nhà nước.

4. Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự giá ngạch sơ thẩm cho bị cáo.

5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo Thào A G được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 07 tháng 11 năm 2023).

Nguyên đơn dân sự được quyền kháng cáo bản án về phần bồi thường thiệt hại trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án; quyết định của Tòa án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.

Cỡ chữ