vanban.org

Bản án 02/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái Tuyên án 14/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Giàng Thị P phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Giàng Thị P 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Thị P phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng Thị P phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁÍ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2023/HS-ST

Ngày: 14/02/2023

HUYỆN MÙ CANG CHẢI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁÍ - Với

thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Tòng Văn Quân Các Hội thẩm thân dân: 1. ông Hoàng Quang Trung 2. bà Sùng Thị Mỷ - Thư ký phiên toà: ông Lý A Dà- Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải tham gia phiên toà: ông Giàng A Sinh- kiểm sát viên. Trong ngày 14 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2023/TLST- HS ngày 12 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo: Giàng Thị P- sinh ngày 25 tháng 3 năm 1959, tại huyện M, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: bản M, xã M, huyện M, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng Bùa P và bà Thào Thị M- (đều đã chết); có chồng là Hờ Súa Vsinh năm 1957 và 07 con (con lớn nhất sinh 1982, con nhỏ nhất sinh năm 1992); tiền án, tiền sự: Không; là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam thuộc chi bộ bản M, Đảng bộ xã M, huyện M, tỉnh Yên Bái (đã bị đình chỉ sinh hoạt). nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2022. Có mặt. - Người bào chữa cho bị cáo: bà Đặng Thị Bình- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Yên Bái. Có mặt. - Người làm chứng: ông Đỗ Phú Cường, sinh năm 1981; trú tại: Tổ 2, thị trấn Mù Cang Chải, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt. - Người phiên dịch: ông Thào A Dờ, sinh năm 1979; trú tại: tổ 5, thị trấn Mù Cang Chải, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 22/9/2022, tổ công tác Công an huyện Mù Cang Chải phát hiện tại nhà ở của Giàng Thị P - sinh năm 1959, có tập trung đông người, nghi vấn hoạt động mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong nhà có mặt Giàng Thị P và một người đàn ông khác, tổ công tác yêu cầu Giàng Thị P và người đàn ông này có đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội thì tự giác giao nộp, Giàng Thị P tự giao nộp: 01 lọ nhựa màu trắng, bên trong có 06 gói nilon màu xanh đều hàn kín một đầu, bên trong mỗi gói đều có chất bột nén màu trắng và 01 mảnh chất bột nén màu trắng; 01 gói nilon màu xanh buộc thắt nút một đầu, bên trong có 04 gói bằng nilon màu xanh buộc thắt nút một đầu, bên trong mỗi gói đều có chất bột nén màu trắng; tiền có chữ ngân hàng nhà nước Việt Nam 705.000 đồng; 01 điện thoại di động màu đen, mặt trước có ký hiệu “itel” bàn phím số; 01 ví vải màu đen. Giàng Thị P khai nhận các gói có chứa chất bột nén màu trắng và mảnh chất bột nén màu trắng đã giao nộp cho Cơ quan Công an là Heroine của bản thân cất giấu để bán kiếm lời, đồng thời Giàng Thị P khai nhận vừa bán 02 gói ma túy với giá 100.000đ cho người đàn ông đang có mặt ở nhà của Giàng Thị P. Người đàn ông này khai tên Đỗ Phú C, sinh năm 1981 và khai nhận vừa mua được 02 gói ma túy với giá 100.000đ của Giàng Thị P nhưng đã sử dụng hết, tự giao nộp 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa. Tiến hành kiểm tra Đỗ Phú C, không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Giàng Thị P và niêm phong vật chứnng theo quy định. Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mù Cang Chải tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật đối với Giàng Thị P tại bản Màng Mủ, xã Mồ Dề, huyện Mù Cang Chải. Quá trình khám xét thu giữ 02 cân tiểu ly tự chế, trong đó 01 chiếc có vỏ gỗ. Tại bản Kết luận giám định số 514/KL-KTHS ngày 29/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: - Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Giàng Thị P trong lọ nhựa màu trắng có tổng khối lượng là 0,29 gam. Đã trích 0,09 gam từ 0,29 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine. - Trong gói nilon màu xanh được buộc túm một đầu có tổng khối lượng là 1,28 gam. Đã trích 0,1 gam từ 1,28 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine. Tại bản Kết luận giám định số 515/KL-KTHS ngày 30/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: Toàn bộ số tiền 705.000 đồng gửi giám định đều là tiền do Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành. Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang và quá trính điều tra bị cáo tự nguyện khai ra trước đó đã thực hiện 01 lần bán ma túy; thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bản thân. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Giàng Thị P khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 18/9/2022, Giàng Thị P gọi điện thoại cho Giàng A T, sinh năm 1962, trú tại bản Đề Chờ Chua B, xã Púng Luông, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái hỏi T có ma túy bán không và đến khoảng 12 giờ ngày 21/12/2022, Giàng Thị P đã mua được 01 gói Heroine với giá 1.000.000đ của Giàng A T. Sau khi mua được Heroine P mang về nhà chia nhỏ thành 13 gói ( gồm 09 gói nhỏ; 04 gói to) với mục đích để bán kiếm lời và cụ thể Giàng Thị P đã bán cho Đỗ Phú C - sinh năm 1981, 02 lần (lần 1 khoảng 19 giờ ngày 21/9/2022; lần 2 khoảng 06 giờ ngày 22/9/2022. Cáo trạng số: 01/CT- VKS- MCC ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố Giàng Thị P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đã phân tích, đánh giá hành vi của bị cáo trong quá trình thực hiện tội phạm và giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Giàng Thị P từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy; 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh ni lon gói; 01 vật lửa vỏ nhựa màu tím; 01 mảnh giấy bạc bị cháy xém một mặt; 01 ví vải màu đen cũ đã qua sử dụng, 01 lọ nhựa màu trắng không nhãn mác và 02 cân tiểu ly tự chế; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 150.000 đồng; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động loại bàn phím số, ký hiệu “itel” và số tiền 555.000 đồng; trả lại cho Giàng A T, sinh năm 1962, trú tại bản Đề Chờ Chua B, xã Púng Luông, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái 01 điện thoại di động loại bàn phím số, có ký hiệu “Matsstel”. Người bào chữa trình bày lời bào chữa nhất trí với tội danh và điều khoản truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số, không biết chữ, chưa có tiền án, tiền sự; nhận thức pháp luật còn hạn chế; tại biên bản bắt người phạm tội quả tang bị cáo tự nguyện khai ra trước đó đã thực hiện hành vi bán ma túy cho Đỗ Phú C; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo. Đề nghị Tòa án áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất của khung hình phạt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật. Bị cáo không có ý kiến bổ sung. Khi được nói lời sau cùng, đề nghị được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Cơ quan điều tra Công an huyện Mù Cang Chải, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, Kiểm sát viên; trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thủ tục tố tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. [2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với biên bản ghi lời khai người làm chứng, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, phù hợp với kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ Ngày 21/12/2022 Giàng Thị P mua một lượng Heroine với giá 1.000.000 đồng mục đích để bán kiếm lời. Cụ thể: khoảng 19 giờ ngày 21/9/2022 đã bán cho Đỗ Phú C 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng; khoảng 06 giờ ngày 22/9/2022 lại bán cho Đỗ phú C 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng thì bị Công an bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng là 1,57 gam Heroine. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. [3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc “Mua bán trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm quy định của Nhà nước về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma tuý, mà còn làm gia tăng tệ nạn nghiện ma tuý, là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh các loại tội phạm khác trên địa bàn, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ: Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang bị cáo tự nguyện khai ra trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội của mình là tình tiết người phạm tội tự thú; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt. [5] Về nhân thân: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số, không biết chữ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính. Ngoài lần phạm tội này bị cáo chấp hành đúng chính sách pháp luật của Nhà nước thể hiện bị cáo là người có nhân thân tốt. [6] Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời cũng đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung. Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng, điều kiện thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [7]Các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với Giàng A T, sinh năm 1962, trú tại bản Đề Chờ Chua B, xã Púng Luông, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. Theo lời khai của Giàng Thị P khai là người đã bán ma túy cho P. Căn cứ lời khai của Giàng Thị P, Cơ quan điều tra đã xác minh và tiến hành khám xét người, chỗ ở, đồ vật tại nơi ở của Giàng A T. Quá trình khám xét tạm giữ 01 điện thoại di động, đồng thời triệu tập Giàng A T để làm rõ các nội dung liên quan. Tại cơ quan điều tra, qua lấy lời khai và cho đối chất, Giàng A T khai nhận có quen biết với Giàng Thị P nhưng không thừa nhận việc bán ma túy cho Giàng Thị P theo như lời khai của P. Cơ quan điều tra cũng không có chứng cứ khác để chứng minh về việc này. Do đó không đủ căn cứ để xử lý đối với Giàng A T. - Đối với Đỗ Phú C là mua ma túy P để sử dụng cho bản thân nhưng đã sử dụng hết. Cơ quan điều tra Công an huyện Mù Cang Chải đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Đỗ Phú C về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp. [8] Về xử lý vật chứng: - Số Heroine còn lại là 1,38 gam được cho vào 01 túi nilon màu trắng và niêm phong vào 01 phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành, mặt trước phong bì có ghi: Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Giàng Thị P - SN 1959 tại bản Màng Mủ, xã Mồ Dề, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái ngày 22/9/2022 (sau khi trích mẫu giám định) là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu huỷ. Vật chứng là 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh nilon gói; 01 bật lửa vỏ nhựa màu tím, đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy bạc bị cháy xém một mặt; 01 ví vải màu đen cũ, đã qua sử dụng và 01 lọ nhựa màu trắng không nhãn mác; 02 cân tiểu ly tự chế không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. - 01 điện thoại di động loại bàn phím số, màu đen, mặt trước có ký hiệu “itel” cũ đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của bị cáo cần trả lại cho bị cáo. - 01 điện thoại di động loại bàn phím số, màu đen, mặt trước có ký hiệu “Masstel”, mặt sau bị nứt, vỡ một số chỗ, khám xét thu giữ của Giàng A T là tài sản hợp pháp của Giàng A T cần trả lại cho ông T. - Số tiền 705.000 đồng. Trong đó: 150.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội (bán ma túy) mà có, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; số tiền còn lại 555 đồng là tiền thu nhập hợp pháp của bị cáo cần trả lại cho bị cáo. [9] Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật. [10] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 251 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Giàng Thị P phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" 1. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Giàng Thị P 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 22/9/2022. 2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. - Tịch thu tiêu huỷ: Số Heroine còn lại là 1,38 gam được cho vào 01 (một) túi nilon màu trắng và niêm phong vào 01(một) phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành, mặt trước phong bì có ghi: Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Giàng Thị P - SN 1959 tại bản Màng Mủ, xã Mồ Dề, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái ngày 22/9/2022 (sau khi trích mẫu giám định). Mặt sau phong bì có chữ ký, họ tên của Trương Xuân Ngọc, Nguyễn Đăng Ninh, Hoàng Hữu Quốc Tuấn, Nguyễn Anh Tuấn, Đặng Thị Bình và 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái; 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh nilon gói; 01(một) bật lửa vỏ nhựa màu tím, đã qua sử dụng; 01(một) mảnh giấy bạc bị cháy xém một mặt; 01(một) ví vải màu đen cũ, đã qua sử dụng và 01 (một) lọ nhựa màu trắng không nhãn mác; 02 (hai) cân tiểu ly tự chế trong đó 01 chiếc có vỏ gỗ. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Trả cho bị cáo 555.000 đồng (Năm trăm năm mươi lăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động loại bàn phím số, màu đen, mặt trước có ký hiệu “itel” cũ đã qua sử dụng. Trả cho Giàng A T, sinh năm 1962, trú tại bản Đề Chờ Chua B, xã Púng Luông, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái 01 điện thoại di động loại bàn phím số, có ký hiệu “Matsstel” mặt sau bị nứt, vỡ một số chỗ. 3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, Bị cáo Giàng Thị P được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ