- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội phạm về gia thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên b : Bị cáo Phan Tiến T phạm tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật t t ng hình sự; Điều 331 Bộ luật t t ng hình sự; Điều 333 Bộ luật t t ng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KON RẪY TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n án s : 02/2023/HS-ST Ngày: 07 - 4-2023. |
NHÂN DANH
NƯ C CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KON RẪY - TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Phương Loan.
Các Hội thẩm nhân: Ông Hoàng Văn Do và ông Trịnh Trung Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông A Th ng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Nguy n Tân Ph ng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07/4/2023, tại tr sở, Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy - tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th C s 02/2023/TLST- HS ngày 18 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa v án ra xét xử s 03/2023/ QĐXXST- HS ngày 27/ 02/ 2023 đ i với bị cáo:
Phan Tiến T (Tên gọi khác: Không có ; sinh ngày 01/ 6/ 1964 tại Hà Tĩnh;
Nơi cư trú: thôn X, thị trấn Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Phạm G Đ và bà Trần Thị L; bị cáo có vợ Phan Thị U và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân t t.
Bị cáo bị áp d ng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/11/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Trịnh Thị G, sinh năm 1950 (Đã chết .
Người đại diện h p pháp của b hại:
1/ Ông Đặng Đức A, sinh năm 1947 (có mặt .
2/ Bà Đặng Thị B, sinh năm 1972 (có mặt .
3/ Ông Đặng Văn C, sinh năm 1974 (có mặt .
4/ Chị Đặng Thị D, sinh năm 1979 (v ng mặt .
5/ Anh Đặng Văn F, sinh năm 1981 (có mặt .
6/ Chị Đặng Thị H, sinh năm 1983 (v ng mặt .
7/ Chị Đặng Thị Thu I, sinh năm 1987 (v ng mặt .
8/ Anh Đặng Đức K, sinh năm 1989 (v ng mặt .
C ng trú tại: Thôn 03, thị trấn Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.
Bà Đặng Thị B, ông Đặng Văn C, chị Đặng Thị D, anh Đặng Văn F, chị Đặng Thị H, chị Đặng Thị Thu I, anh Đặng Đức K y quyền cho ông Đặng Đức A tham gia t t ng (Theo văn b n y quyền ngày 30/12/2022 .
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ N quan:
1/ Ông Nguy n Xuân L, sinh năm 1960. Địa chỉ: Thôn 02, thị trấn Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum (v ng mặt, có đơn xin xét xử v ng mặt).
2/ Bà Phan Thị U, sinh năm 1965. Địa chỉ: Thôn 7, thị trấn Đăk Rve, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum (có mặt .
- Những người làm chứng:
1/ Anh Đinh Văn M, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn Y, thị trấn Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum (v ng mặt, có đơn xin xét xử v ng mặt .
2/ Bà Nguy n Thị N, sinh năm 1967. Thôn Y, thị trấn Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum (v ng mặt, có đơn xin xét xử v ng mặt .
3/ Bà Phạm Thị O, sinh năm 1965. Thôn Y, thị trấn Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum (v ng mặt, có đơn xin xét xử v ng mặt .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:
Vào kho ng 07 giờ 45 phút ngày 08/11/2022, bị cáo Phan Tiến T điều khiển xe mô tô BKS: 82K1 – 7340 có để ở vị trí gác ba ga phía trước c a xe mô tô 01 (một) can nhựa rỗng, màu tr ng, loại 30 lít, kích thước (20x27x37) cm, lưu thông theo hướng từ thôn 07, thị trấn Đ đến Trạm xăng dầu thuộc thôn 01, thị trấn Đ, huyện Kon Rẫy để mua xăng. Khi đi đến vị trí đỉnh d c trước s nhà 58 đường Duy Tân đoạn đường thuộc thôn 03 - thị trấn Đ - huyện Kon Rẫy thì phát hiện cách kho ng 10 mét, bà Trịnh Thị G đang đi bộ từ vị trí giữa đường sang phần đường bên pM cùng chiều với hướng di chuyển c a bị cáo. Bị cáo không gi m t c độ và không bóp còi báo hiệu mà tiếp t c điều khiển xe đi xu ng d c. Khi cách bà G kho ng 03 mét thì can nhựa để phía trước bị nghiêng, lệch sang bên trái va đập vào tay nên bị cáo đã d ng tay trái lôi kéo can nhựa về vị trí ban đầu, dẫn đến bị cáo không chú ý quan sát phía trước nên phần tay lái bên pM c a xe mô tô đã va vào mạn sườn phần lưng bên trái c a bà G làm bà G ngã xu ng đường, còn xe mô tô bị cáo điều khiển bị chao đ o, lệch tay lái và ngã xu ng mặt đường nhựa, can nhựa văng ra khỏi xe nằm ở lề đường bên pM (theo hướng di chuyển). Sau khi va chạm, bị cáo nhanh chóng đi đến vị trí bà G nằm thì thấy bà G úp mặt bên trái xu ng đường, bị cáo dùng tay nâng đỡ người bà G và đặt lên đ i để sơ cứu thì phát hiện tai, mũi c a bà G bị ch y máu, miệng nôn ói. Lúc này, một s người hàng xóm sinh s ng gần đó cũng chạy ra xem v tại nạn; ông Đinh Văn M là người điều khiển xe mô tô đi ngược chiều phát hiện chứng kiến v tai nạn đã đi đến dùng áo c a mình để bịt vết thương cầm máu cho bà G. Sau khi được mọi người đưa đi cấp cứu, bà G đã chết tại Trung tâm y tế thị trấn Đ. Bị cáo T bị thương xây xát nhẹ; xe mô tô hư hỏng nhẹ.
- Tại Biên b n khám nghiệm hiện trường vào hồi 09 giờ 45 ngày 08 tháng 11 năm 2022, thể hiện: Hiện trường v tai nạn giao thông x y ra trước s nhà 58 đường Duy Tân thuộc địa phận thôn 03, thị trấn Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum. Là đoạn đường được tr i nhựa. Hiện trường có:
Hướng B c giáp với nhà ông Đặng Đức F;
Hướng Nam giáp với nhà ông Tam và bà Nguy n Thị Định;
Hướng Đông là đường nhựa hướng đi thôn 07, thị trấn Đ;
Hướng Tây là đường nhựa hướng đi thôn 02 và thôn 9, thị trấn Đ.
+ Chọn hướng khám nghiệm là hướng từ Đông đến Tây (hướng từ thôn 07 đến thôn 02 và thôn 09, th trấn Đ).
+ Chọn lề đường bên ph i theo hướng khám nghiệm làm lề chuẩn.
+ Chọn tr điện ký hiệu VIETTEL 8A665 làm điểm c định.
+ Hiện trường v x y ra tai nạn là đoạn đường d c, có độ d c 04%, mặt đường được tr i nhựa, lòng đường rộng 3,6m.
+ Tại mặt đường nhựa phát hiện 01 vết cà in trên mặt đường (ký hiệu VC1). VC1 có kích thước (12x0,8)cm và có chiều hướng từ Đông đến Tây. Đầu và cu i VC1 cách lề chuẩn lần lượt là 80cm và 81cm.
+ Cách cu i VC1 0,98cm phát hiện 01 vết máu trên mặt đường (Ký hiệu VM1 . VM1 có kích thước (12x0,8)cm. Tâm VM1 cách lề chuẩn 20cm.
+ Cách tâm VM1 0,9m phát hiện 01 vết máu tại lề đất bên trong lề chuẩn (Ký hiệu VM2 . VM2 có kích thước (25x50)cm. Tâm VM2 cách lề chuẩn 0,45m.
+ Cách tâm VM2 2,2m phát hiện 01 vết cà trên mặt đường (ký hiệu VC2), VC2 có kích thước (17x0,8)cm và có chiều hướng từ Đông đến Tây. Đầu và cu i VC2 cách lề chuẩn lần lượt là 1,4m và 1,36m.
+ Cách cu i VC2 0,76m phát hiện 01 vết cà trên mặt đường (Ký hiệu VC3). VC3 có kích thước (13x0,8)cm và có chiều hướng từ Đông đến Tây. Đầu và cu i VC3 cách lề chuẩn lần lượt là 1,37m và 1,36m.
+ Cách cu i VC3 0,82m phát hiện 01 vết cà trên mặt đường (Ký hiệu VC4). VC4 có kích thước (5x0,8)cm và có chiều hướng từ Đông đến Tây. Đầu và cu i VC4 cách lề chuẩn 1,35m.
+ Cách tâm VM1 2,38m phát hiện 01 vết trượt in trên mặt đường (Ký hiệu VT1 . VT1 có kích thước (10x1,5)cm và có chiều hướng từ Đông đến Tây. Đầu và cu i VT1 đều cách lề chuẩn 0,85m.
+ Cách cu i VT1 0,63m phát hiện 01 vết trượt in trên mặt đường (Ký hiệu VT2 . VT2 có kích thước (11x1,5)cm và có chiều hướng từ Đông đến Tây. Đầu và cu i VT2 đều cách lề chuẩn 0,83m.
+ Cách cu i VT2 0,51m phát hiện 01 vết trượt in trên mặt đường (Ký hiệu VT3 . VT3 có kích thước (25x1,5)cm và có chiều hướng từ Đông đến Tây. Đầu và cu i VT3 cách lề chuẩn lần lượt là 0,78m và 0,77m.
+ Tại vị trí cu i VT3 là vị trí tr c sau xe mô tô BKS: 82K1 – 7340. Trong tình trạng nằm ng nghiêng bên trái theo hướng khám nghiệm, đầu xe quay về hướng Tây Nam, đuôi xe quay về hướng Đông B c. Tr c trước và tr c sau xe mô tô cách lề chuẩn lần lượt là 1,38m và 0,77m.
+ Cách tr c trước và tr c sau xe mô tô lần lượt là 2,2m và 2,4m. Tại lề đất bên trong lề chuẩn theo hướng khám nghiệm phát hiện 01 can nhựa màu tr ng trên can nhựa có chữ @AnLong, kích thước (27x37x20)cm.
+ Căn cứ vào các dấu vết để lại tại hiện trường, lời khai người làm chứng, lời khai người vi phạm thì điểm đ ng được xác định tại vị trí cách lề chuẩn 0,7m (Ký hiệu ĐĐ . Lòng đường đo được tại điểm đ ng là 3,6m. Điểm đ ng cách đầu VC1 0,7m, cách tâm VM1 1,8m, cách tâm VM2 2,6m, cách tr c trước và tr c sau xe mô tô lần lượt là 6,5m và 5,6m.
+ Điểm c định tr điện có ký hiệu VIETTEL 8A665 cách điểm đ ng 11,85m, cách đầu VC1 12,15m, cách tr c sau xe mô tô 16,4m.
- Tại Biên b n khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 09 tháng 11 năm 2022 đ i với xe mô tô BKS: 82K1- 7340, thể hiện: Xe mô tô không có gương chiếu hậu bên trái; gương chiếu hậu bên ph i rời khỏi vị trí liên kết (lắp ghép); đèn xi nhan bên ph i, bên trái bị bể vỡ; ch n bùn bánh trước bể vỡ dấu vết cũ kích thước (13x4) cm; xe không có cánh manh ch n gió hai bên; phần cao su tay n m bên trái bị trà mòn kích thước (3x2) cm; gác ba ga trước được đệm lót phía trên bởi bao t i kích thước (10x27) cm được gia c chằng buộc bởi dây thun; phần cao su c a gác để chân người ngồi phía trước bên trái bị trầy xước, chà mòn kích thước (3x5) cm; chân ch ng đứng bên trái bị chà mòn kích thước (0,4x1) cm; xe không có s khung, s máy.
- Tại kết luận giám định tư pháp, ngày 11/11/2022 c a Sở giao thông vận t i tỉnh Kon Tum, kết luận: Phương tiện mang biển s BKS: 82K1- 7340.
+ Dấu vết liên quan đến tai nạn: Không kiểm tra;
+ Kiểm tra hệ th ng phanh, hệ th ng lái: Hoạt động bình thường, không phát hiện dấu hiệu bị hư hỏng;
- Tại b n kết luận giám định pháp y về tử thi s : 205/KL-KTHS c a Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Kon Tum ngày 14/11/2022, kết luận nguyên nhân chết c a bà Trịnh Thị G là do bị chấn thương sọ não.
- Tại biên b n kiểm tra nồng độ cồn lúc 09 giờ 25 phút ngày 08/11/2022 c a Công an huyện Kon Rẫy thể hiện nồng độ cồn (Ethanol) c a Phan Tiến T là 0.000 mg/l.
- Tại phiếu kết qu xét nghiệm 19 giờ 19 phút ngày 08/11/2022 c a Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum thể hiện trong máu c a bà Trịnh Thị G không có nồng độ cồn.
Vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Kon Rẫy đã tạm giữ 01 (một) xe mô tô BKS: 82K1- 7340, nhãn hiệu: CITI, màu F đỏ, xe cũ đã qua sử d ng; 01 (một) can nhựa màu tr ng, loại 30 lít, kích thước (20x27x37) cm. Hiện đang tiếp t c tạm giữ chờ xử l .
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại s tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) và gia đình bị hại đã có đơn xin gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo ph i bồi thường gì thêm.
Tại b n cáo trạng s : 03/CT-VKS ngày 18/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy truy t bị cáo Phan Tiến T về tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại kho n 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công t giữ nguyên quyết định truy t 03/CT-VKS ngày 18/01/2023 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy - tỉnh Kon Tum và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên b bị cáo Phan Tiến T phạm tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp d ng kho n 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự; các điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51 và Điều 65 c a Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Tiến T từ 12 - 16 tháng t nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24-32 tháng, tính từ ngày tuyên án. iao bị cáo cho UBND thị trấn Đ, huyện Kon Rẫy giám sát, giáo d c trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại tổng s tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) và gia đình bị hại đã có đơn xin gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo . Tại phiên tòa, gia đình bị hại không có ai yêu cầu bị cáo ph i bồi thường thêm nên HĐXX không xem xét.
Về xử l vật chứng: Đề nghị HĐXX áp d ng điểm b kho n 3 Điều 106 Bộ luật t t ng hình sự năm 2015, tuyên tr lại cho bị cáo 01 (một) xe mô tô BKS: 82K1- 7340, nhãn hiệu: CITI, màu sơn đỏ, xe cũ đã qua sử d ng và 01 (một) can nhựa màu tr ng, loại 30 lít, kích thước (20x27x37) cm.
Về án phí: Buộc bị cáo ph i chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp luật.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội c a mình, xin lỗi gia đình bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo theo đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát.
Những người đại diện hợp pháp c a bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại thêm, xin Hội đồng xét xử gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo và xem xét cho bị cáo được hưởng án treo theo đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về t t ng: Hành vi, quyết định t t ng c a Cơ quan CSĐT - Công an huyện Kon Rẫy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th t c theo quy định c a Bộ luật T t ng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia t t ng khác không có kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành t t ng, người tiến hành t t ng. Các hành vi, quyết định t t ng c a cơ quan tiến hành t t ng, người tiến hành t t ng đã thực hiện đều đúng quy định c a pháp luật.
Về hành vi phạm tội mà bị cáo bị truy t , Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phan Tiến T đã khai nhận toàn bộ hành vi và quá trình phạm tội như b n cáo trạng mô t . Lời khai nhận c a bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn ph hợp với lời khai c a bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai c a những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ v án. Hội đồng xét xử thấy có đ căn cứ xác định: Vào kho ng 07 giờ 45 phút ngày 08/11/2022, tại đoạn đường d c trước s nhà 58 Duy Tân thuộc địa phận thôn 03, thị trấn Đ, huyện Kon Rẫy, do không gi m t c độ cần thiết và không chú quan sát nên bị cáo Phan Tiến T đã gây tai nạn giao thông khi đang điều khiển xe mô tô mang BKS 82K1 – 7340 tham gia giao thông trên đường. Hậu qu làm bà Trịnh Thị G tử vong do chấn thương sọ não.
Hành vi c a bị cáo đã vi phạm vào kho n 4 Điều 5 Thông tư s 31/2019/TT – BGTVT ngày 29/8/2019 c a Bộ giao thông vận t i quy định về t c độ và kho ng cách an toàn c a xe cơ giới, xe máy chuyên d ng tham gia giao thông đường bộ và đ cấu thành tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại kho n 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy truy t bị cáo với tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét thấy: Hành vi c a bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ được pháp luật b o vệ và gây ra hậu qu chết người. Trong b i c nh Nhà nước ta đang thực thi nhiều chính sách pháp luật để gi m thiểu tai nạn giao thông thì hành vi phạm tội c a bị cáo cần bị áp d ng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội để c i tạo, giáo d c bị cáo cũng như để răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
. Về tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân c a bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tính tiết gi m nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo và ăn năn h i c i về hành vi phạm tội c a mình. Sau khi gây tai nạn, bị cáo đã tích cực thăm hỏi, hỗ trợ, bồi thường cho gia đình bị hại s tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) để lo chi phí mai táng và các chi phí khác. Đây là những tình tiết gi m nhẹ được quy định tại các điểm b, s kho n 1 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự hiện hành. Bên cạnh đó, người bị hại cũng có lỗi khi đi bộ chưa đúng phần đường theo quy định tại kho n 1 Điều 32 Luật giao thông đường bộ năm 2008. Cha đ bị cáo bị thương tật hạng 4/4, được hưởng chính sách như thương binh nên được xem là người có công với nước. Do đó, bị cáo được hưởng thêm tình tiết gi m nhẹ quy định tại kho n 2 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân t t, phạm tội lần đầu và gia đình người bị hại cũng có kiến xin gi m nhẹ cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có kh năng tự c i tạo; việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không nh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội c a địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát và kiến c a đại diện gia đình bị hại, xem xét cho bị cáo hưởng án treo theo quy định c a pháp luật.
Về hình phạt bổ sung cấm đ m nhiệm chức v , cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định: Hội đồng xét xử không áp d ng cho bị cáo vì thấy không ph hợp với hoàn c nh c a bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã hỗ trợ, bồi thường cho gia đình bị hại s tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) để lo chi phí mai táng. Những người đại diện hợp pháp c a bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét. S tiền bị cáo bồi thường này là c a chung vợ chồng nhưng vợ bị cáo là bà Phan Thị U không yêu cầu bị cáo hoàn tr phần tiền c a chị. Người có quyền lợi và nghĩa v liên quan khác là anh Nguy n Xuân L không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử l vật chứng: Vật chứng trong v án là 01 (một) xe mô tô BKS: 82K1- 7340, nhãn hiệu: CITI, màu sơn đỏ, xe cũ đã qua sử d ng. Đây là tài s n chung c a vợ chồng bị cáo nên cần tr lại cho bị cáo và bà Phan Thị U. Còn 01 (một) can nhựa màu tr ng, loại 30 lít, kích thước (20x27x37) cm là vật không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu h y theo quy định tại điểm c Kho n 2 Điều 106 Bộ luật t t ng Hình sự.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Tiến T ph i chịu án phí theo quy định c a pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên b : Bị cáo Phan Tiến T phạm tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ”.
p d ng kho n 1 Điều 260; các điểm b, s Kho n 1, Kho n 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phan Tiến T 12 (mười hai) tháng t nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi b n) tháng, tính từ ngày tuyên án (07/4/2023 .
iao bị cáo Phan Tiến Thành cho y ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo d c trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định c a pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo c vi phạm nghĩa v theo quy định c a Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo pM chấp hành hình phạt t c a b n án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo ph i chấp hành hình phạt c a b n án trước và tổng hợp với hình phạt c a b n án mới theo quy định tại Điều 56 c a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 .
2. Về xử l vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c Kho n 2, điểm b kho n 3 Điều 106 Bộ luật t t ng hình sự: Tr lại cho bị cáo Phan Tiến T và bà Phan Thị U 01 (một) xe mô tô BKS: 82K1- 7340, nhãn hiệu: CITI, màu F đỏ, xe cũ đã qua sử d ng . Tịch thu, tiêu h y 01 (một) can nhựa màu tr ng, loại 30 lít, kích thước (20x27x37) cm.
(Chi tiết vật chứng vụ án đư c thể hiện theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum với Chi cục thi hành án dân sự huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum ngày 02 tháng 02 năm 2023).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: p d ng kho n 2 Điều 136 Bộ luật T t ng hình sự năm 2015; điểm a kho n 1 Điều 23 Nghị quyết s 326/ 2016/ UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 c a y ban thường v Qu c hội quy định về mức thu, mi n, gi m, thu, nộp, qu n l và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phan Tiến T ph i chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật t t ng hình sự, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (07/ 4/ 2023), bị cáo, những người đại diện hợp pháp c a bị hại, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo b n án này để xin xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Riêng đ i với người có quyền lợi nghĩa v , liên quan v ng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày nhận được b n án hoặc b n án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh KonTum; - Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum; - VKSND huyện Kon Rẫy; - CA huyện Kon Rẫy; - Chi c cTHADS huyện Kon Rẫy. - UBND thị trấn Đ, huyện Kon Rẫy; - Bị cáo; bị hại; người có QL, NV N quan; - Lưu hồ sơ VA./. TH NH V N HĐXX | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Thị Phương Loan TH M PH N - CH T A PH N T A |