- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Văn Thực - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn Th phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG TỈNH LẠNG SƠN ____________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HS-ST Ngày 10-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thảo Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Đức
Ông Lê Xuân Nghiêm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Đàm Thành– Thư ký Tòa án nhân dân huyện hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Nhà văn hóa thôn Đồng Ngầu, xã Cai Kinh, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 92/2022/TLST-HS, ngày 20 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Triệu Văn Th (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 10 tháng 6 năm 2001 tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
Nơi cư trú: Thôn Đ , xã Cai K, huyện huyện Hữu L, tỉnh Lạng S; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 07/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn Q, đã chết và bà Nông Thị T, sinh năm 1978; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính, không bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hữu Lũng từ ngày 24/10/2022 đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Triệu Văn C, sinh năm 1999, địa chỉ: Thôn Đ , xã Cai K, huyện huyện Hữu L, tỉnh Lạng S. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ, ngày 24/10/2022, Triệu Văn Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 12D1-07706, đi từ nhà tại thôn Đồng Kết, xã Cai Kinh, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đến thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang để mua ma túy về sử dụng. Khi đến ngã tư thị trấn Kép, Triệu Văn Th rẽ trái vào khoảng 200m thì gặp và hỏi mua ma túy với một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Triệu Văn Th đưa 200.000 đồng cho người này và nhận 02 đoạn ống hút nhựa màu hồng, hàn kín hai đầu bên trong đựng chất cục bột màu trắng là ma túy Heroine. Triệu Văn Th giấu ma túy vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và cất vào túi quần phía trước bên trái rồi điều khiển xe về hướng Lạng Sơn. Đến đoạn cầu Na Hoa, thuộc thôn Na Hoa, xã Hồ Sơn, huyện Hữu Lũng, Triệu Văn Th bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Tại biên bản xét nghiệm ma túy ngày 25/10/2022, kết quả Triệu Văn Th dương tính với ma túy Heroine.
Tại bản kết luận giám định số 373/KL-KTHS ngày 27/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất cục bột màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,105 gam (đã trừ bì).
Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 20 tháng 12 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Triệu Văn Th về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Triệu Văn Th thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.
Anh Triệu Văn C trình bày: Anh là anh trai của bị cáo, chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12D1-07706 là của anh. Ngày 24/10/2022 anh để xe máy ở nhà, khi đó khóa vẫn cắm ở xe nên khi bị cáo lấy xe đi mua ma túy anh không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho anh nên anh không có yêu cầu gì khác.
Đai diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Văn Th từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ chất ma túy là mẫu vật còn lại sau giám định, 02 đoạn ống hút nhựa màu hồng và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo Triệu Văn Th đã biết hành vi của mình là sai và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Triệu Văn Th là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 24/10/2022 bị cáo đã có hành vi tàng trữ phép 0,105 gam ma túy Heroine. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt tương xứng, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Triệu Văn Th không có tiền án tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện bị cáo không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với chất ma túy là mẫu vật sau giám định đựng trong phong bì niêm phòng là vật cấm tàng trữ, lưu hành, 02 đoạn ống hút nhựa màu hồng dùng để đựng ma túy và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bị cáo dùng để giấu chất ma túy là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về đối tượng liên quan đến việc bán chất ma túy: Bị cáo Triệu Văn Th khai nguồn gốc số ma túy là do bị cáo mua của một người đàn ông, tuy nhiên, bị cáo không cung cấp được thông tin cụ thể về nhân thân, lai lịch, địa chỉ của đối tượng bán ma túy cho bị cáo. Do đó, không có căn cứ để điều tra, xác minh và xử lý đối tượng nói trên trong vụ án này.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 12D1-07706 là của anh Triệu Văn C (anh trai của bị cáo Triệu Văn Th). Ngày 24/10/2022, anh Triệu Văn C để xe ở nhà, bị cáo đã tự ý sử dụng để đi mua ma túy, anh Triệu Văn C không biết nên không đặt vấn đề xử lý. Ngày 09/12/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh Triệu Văn C là đúng quy định.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã xảy ra, đúng với các quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng sung công quỹ Nhà nước, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn luật định theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn Th phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Triệu Văn Th 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/10/2022.
3. Về xử lý vật chứng
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư dán kín, trong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký cùng tên của các thành phần tham gia niêm phong, của giám định viên và cán bộ giám định và hình dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, Công an xã Hồ Sơn và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Hữu Lũng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng ngày 21/12/2022).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Triệu Văn Th phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Hữu Lũng; - Công an huyện Hữu Lũng; - Cơ quan THAHS Công an huyện Hữu Lũng; - Chi cục THADS huyện Hữu Lũng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Phạm Văn Xuân Nguyễn Thị Thu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thảo Nguyên Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Tuyết |