vanban.org

Bản án 02/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 06/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh T (T Đ), phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh T (T Đ), 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo Lê Thanh T (T Đ) chấp hành án phạt tù. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) giá đỡ điện thoại bằng gỗ (đã qua sử dụng của ông Lê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh T (T Đ), phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HS-ST
Ngày 06-01 -2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Quốc Sách.

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Kim Tuyền.

Ông Bùi Tấn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Thành Tâm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hữu Ý - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2022/TLHS-ST ngày 14 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

* Lê Thanh T (tên gọi khác: Đ), sinh ngày 01/01/1986 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Hòa Hảo; Con ông: Lê Thành T, sinh năm: 1953 và bà: Lê Thị N, sinh năm: 1957; Có vợ: Phạm Thị K, sinh năm: 1988 và có 03 người con: Lớn nhất sinh năm: 2007, nhỏ nhất sinh năm: 2021; Tiền án: Chưa có; Tiền sự: Ngày 06/01/2021 bị Công an xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép (hình thức lắc tài xĩu) - (chưa nộp phạt); Nhân thân: Vào ngày 08/8/2007 bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành án xong ngày 24/02/2008. Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Nguyễn Văn C, sinh năm: 1991. (vắng mặt)

2. Nguyễn Văn T, sinh năm: 1983. (vắng mặt)

3. Lê Văn L, sinh năm: 1965. (vắng mặt)

4. Lê Thị Ngọc V, sinh ngày 28/4/2014 (vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp cho Lê Thị Ngọc V là ông Lê Thành T, sinh năm: 1953 (là ông nội của Ngọc V) (vắng mặt)

Cùng nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

1. Lâm Càng K, sinh năm: 1985. (vắng mặt)

2. Trần Tấn Phúc E, sinh năm: 1988. (vắng mặt)

3. Đặng Văn C (P), sinh năm: 1978. (vắng mặt)

4. Phan Văn P (Long G), sinh năm: 1983. (vắng mặt)

5. Nguyễn Minh H, sinh năm: 1991. (vắng mặt)

6. Lê Văn H, sinh năm: 1970. (vắng mặt)

7. Lê Văn H, sinh năm: 1972. (vắng mặt)

Cùng cư trú: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

3. Lê Văn L, sinh năm: 1977. (vắng mặt)

Cư trú: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Ngày 06/01/2021 Lê Thanh T, bị Công an xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép (hình thức lắc tài xĩu) - (chưa nộp phạt), (Chưa được coi là chưa bị xử phạt hành chính).

Thì vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 02/9/2022, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại quán cà phê của ông Lê Văn L (Út L) thuộc ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, có 01 tụ điểm đánh bạc được, thua bằng tiền trái phép. Nên lực lượng Công an xã P, huyện H tiến hành kiểm tra, phát hiện các đối tượng: Lê Thanh T (T Đ); Lâm Càng K; Trần Tấn Phúc E; Nguyễn Văn C; Nguyễn Văn T; Đặng Văn C (P); Phan Văn P (Long G), Nguyễn Minh H, Lê Văn H và Lê Văn L đang có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền trái phép, dưới hình thức đá gà qua mạng Internet. Công xã P lập biên bản vụ việc (bắt quả tang). Qua xác minh, Lê Thanh T trước đó vào ngày 06/01/2021 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa nộp phạt (chưa hết thời hạn). Xét thấy, có dấu hiệu tội phạm nên Công an xã P chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Lê Thanh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cụ thể, vào ngày 02/9/2022 tham gia đánh bạc được thua bằng tiền trái phép dưới hình thức đá gà qua mạng Internet cùng với L, K, Phúc E, T, C và C. Lê Thanh T dùng máy tính bảng của con mình tên Lê Thị Ngọc V, kết nối Wifi (mạng), truy cập vào ứng dụng Google (tìm kiếm) gõ dòng chữ “đá gà trực tiếp Thomo”, cho kết quả của đường link có dòng chữ “đá gà trực tiếp bình luận” các trận gà đang diễn ra (giữa những con gà có băng keo màu đỏ dưới chân và những con gà có băng keo màu xanh dưới chân). Lê Thanh T cho các người tham gia được chọn trước con gà (con gà cho là thắng). Tỷ lệ thắng thua “đá ăn 9” tức là nếu Lê Thanh T thắng thì được100% số tiền cá cược, nếu thua thì Lê Thanh T chung (chi) 90% số tiền cá cược cho người thắng. Phân thắng, thua khi màng hình hiện chữ “Wala” là gà mang băng keo màu xanh thắng, khi màng hình hiện chữ “Meron” là gà mang băng keo màu đỏ thắng. Ngày bị bắt quả tang (02/9/2022), Lê Thanh T cùng với những người tham gia chơi được 02 trận gà, kết quả như sau:

Trận thứ nhất, Lê Thanh T cá cược với: Lấy (tiền cược 100.000 đồng), Lê Thanh T thắng; K (tiền cược 200.000 đồng) Lê Tanh T thắng; Phúc E (tiền cược 50.000 đồng), Lê Thanh T thắng; C (tiền cược 50.000 đồng), Lê Thanh T thắng; T (tiền cược 100.000 đồng), Lê Thanh T thua 90.000 đồng; C (tiền cược 50.000 đồng), Lê Thanh T thua 45.000 đồng. Tổng số tiền Lê Thanh T thắng thu được 265.000 đồng.

Trận thứ hai, Lê Thanh T cá cược với: K (tiền cược 200.000 đồng), Lê Thanh T thắng; Phúc E (tiền cược 50.000 đồng)), Lê Thanh T thắng; C (tiền cược 50.000 đồng), Lê Thanh T thắng; T (tiền cược 100.000 đồng), Lê Thanh T thắng; C (tiền cược 50.000 đồng), Lê Thanh T thua 45.000 đồng. Tổng số tiền Lê Thanh T thắng thu được 355.000 đồng.

Tổng số tiền Lê Thanh T thắng (thu lợi bất chính từ 02 trận gà nêu trên) là 620.000 đồng.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

- 01(một) máy tính bảng, nhãn hiệu Samsung Galaxy tab A, màu đen và 01(một) sạc dự phòng màu đen (tất cả đều qua sử dụng). Là tài sản của Lê Thị Ngọc V (con của Lê Thanh T), sử dụng trong việc học tập.

- 01 (một) giá đỡ điện thoại bằng gỗ (đã qua sử dụng). Lê Thanh T mượn của ông Lê Văn L.

- Tiền Việt Nam 9.430.000 đồng. Trong đó: 9.240.000 đồng (thu trên người của Lê Thanh T). Qua xác minh thì phần 6.000.000 đồng là số tiền của Lê Thanh T mượn của Võ Trúc L (Linh Bún) để trả nợ cho người khác, không liên quan đến vụ án, nên ngày 30/11/2022 Cơ quan điều tra trả lại cho Lê Thanh T; Còn lại 3.240.000 đồng, trong đó: 2.620.000 đồng tiền dùng vào mục đích đánh bạc và 620.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ việc đánh bạc; Còn 190.000 đồng là số tiền của Nguyễn Văn C, sử dụng và thu lợi bất chính từ việc đánh bạc đã giao nộp.

Tại Bản cáo trạng số: 01/CT-VKSHN, ngày 13/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố đối với Lê Thanh T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,xử phạt: Lê Thanh T, từ 06 tháng 09 tháng tù; Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Đề nghị: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) giá đỡ điện thoại bằng gỗ (đã qua sử dụng); Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 3.430.000 đồng (tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc và tiền thu lợi bất chính); Trả lại: 01(một) máy tính bảng, nhãn hiệu Samsung Galaxy tab A, màu đen và 01(một) sạc dự phòng màu đen (tất cả điều qua sử dụng) cho Lê Thị Ngọc V; Buộc Nguyễn Văn T, nộp lại số tiền 90.000 đồng (tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc). Về dân sự: không phát sinh, nên không đề cập.

Tại phiên tòa lời nói sau cùng của bị cáo Lê Thanh T: Thừa nhận phạm tội và đã ăn năn, hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

Đây là vụ án hình sự, theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội „Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự và vụ án xãy ra tại địa phận huyện Hồng Ngự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì Tòa án có triệu tập những người tham gia tố tụng, nhưng tại phiên tòa có một số người liên quan và người làm chứng vắng mặt không lý do (mặt dù đã được triệu tập hợp lệ). Xét thấy qua ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, những người tham gia tố tụng có mặt, thì việc vắng mặt những người nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, vã lại họ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tại phiên tòa bị cáo đã tự nguyện khai, không bị ép buộc; Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Nên Hội đồng xét xử không đặc vấn đề giải quyết.

. Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, cũng như qua quá trình điều tra bị cáo Lê Thanh T đã thừa nhận toàn bộ diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội của mình như đã nêu phần nội dung vụ án. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, cũng như diễn biến tranh tụng tại phiên tòa. Bị cáo Lê Thanh T đã thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền trái phép, dưới hình thức đá gà qua mạng (Internet) vào ngày 02/9/2022 cùng với Lê Văn L, Lâm Càng K, Trần Tấn Phúc E, Nguyễn Văn C và Đặng Văn C, Nguyễn Văn T và thu lợi (thắng) được 620.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy: Mặc dù bị cáo Lê Thanh T đánh bạc được thua bằng tiền trái phép lần này không đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình hình, nhưng trước đó vào ngày 06/01/2021 Lê Thanh T đã bị Công an xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép (hình thức lắc tài xĩu) - (chưa nộp phạt), như vậy chưa được coi là chưa bị xử phạt hành chính - Nay lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc (dưới hình thức đá gà qua mạng Internet) được thua bằng tiền trái phép nữa, nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…”.

Bị cáo Lê Thanh T là người đầy đủ năng lực hành vi và đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt hành chính và đã 01 lần chấp hành án phạt tù về tội Trộm cắp tài sản, nhưng lại không có ý thức giác ngộ, ăn năn, sửa chữa lỗi lầm, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, biết việc đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, mà vẫn bất chấp tiếp tục thực hiện bằng hình thức đá gà qua mạng Internet được thua bằng tiền trái phép nữa, hành vi này đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh, quy tắc sống xã hội chủ nghĩa, vả lại đánh bạc là một tệ nạn của xã hội, đã được pháp luật nghiêm cấm, vì nó có thể dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác như: trộm cắp, cướp của, giết người…

Việc bị cáo Lê Thanh T cố ý tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc là đã thể hiện một bản chất lười biếng lao động, xem thường pháp luật, chấp nhận một lần nữa đánh đổi phẩm giá của mình bằng con đường phạm tội. Đáng lý ra bị cáo Tuấn phải có suy nghĩ rằng mình tuổi đời còn trẻ, có cuộc sống ổn định và có gia đình êm ấm, đang thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt, thì phải từ bỏ thói hư tật xấu, tìm cho mình một việc làm ổn định, có thu nhập chân chính để nuôi sống bản thân và gia đình, đặc biệt là phải thể hiện tính nêu gương tốt trong việc chấp hành pháp luật. Đằng này bị cáo không làm được điều đó mà lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền trái phép và hôm nay phải đứng trước phiên tòa chờ phán xét của pháp luật. Từ đó, xét thấy về nhân thân và với ý thức, tính chất, mức độ, hậu quả qua hành vi của bị cáo T đã gây ra tại vụ án này là rất nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an ở địa phương, hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, nên cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra, bằng cách cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tốt hơn trong việc chấp hành pháp luật, giác ngộ sửa chữa lổi lầm, phấn đấu trở thành công dân tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

. Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Thanh T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp it nghiêm trọng; Thành phần lao động phổ thông, nên việc am hiểu pháp luật còn hạn chế; Có cha ruột Lê Thành T, chú ruột Lê Văn T là người có công với cách mạng. Nên xem đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và qua đó thấy rằng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên cần áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định để giảm nhẹ thêm một phần hình phạt cho bị cáo T. Đó là tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

. Về tình tiết tăng nặng: Không có.

. Đối với Lê Văn L, Lâm Càng K, Trần Tấn Phúc E, Nguyễn Văn C và Đặng Văn C, Nguyễn Văn T là những người tham gia đánh bạc được thua bằng tiền trái phép với bị cáo T, nhưng chưa có tiền án, tiền sự và số tiền đặt cược không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, nên vào ngày 05 tháng 9 năm 2022 tất cả những người nêu trên đều đã bị Công an xã P, ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép theo quy định của pháp luật là phù hợp; Riêng đối với Nguyễn Văn T thừa nhận mang theo 100.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, đã tham gia cá cược với bị cáo T 02 trận gà, 01 trận thắng được 90.000 đồng, 01 trận thua 100.000 đồng, kết quả thua 10.000 đồng. Qua xác minh, hiện Nguyễn Văn T không có mặt ở địa phương. Tuy nhiên xét thấy số tiền Nguyễn Văn T đem theo sử dụng vào mục đích đánh bạc trái phép còn lại là 90.000 đồng, nghỉ cần buộc Nguyễn Văn T giao nộp số tiền này, để nộp vào ngân sách Nhà nước mới đúng quy định.

. Về địa điểm diễn ra hoạt động đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, với hình thức đá gà qua mạng là tại quán nước giải khát của ông Lê Văn L (Út L). Ông Luông không tổ chức, không hưởng lợi từ việc đánh bạc, nên Viện kiểm sát Huyện không đặt ra xem xét, là phù hợp.

. Đối với Phan Văn P, Nguyễn Minh H và Lê Văn H, có mặt tại tụ điểm đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, nhưng không tham gia đánh bạc, nên Viện kiểm sát Huyện không xem xét trách nhiệm hình sự, là phù hợp.

. Về vật chứng hiện còn thu giữ: 01 (một) giá đỡ điện thoại bằng gỗ (đã qua sử dụng); Tiền Việt Nam: 3.430.000 đồng; 01(một) máy tính bảng, nhãn hiệu Samsung Galaxy tab A, màu đen và 01(một) sạc dự phòng màu đen (tất cả điều qua sử dụng). Xét thấy: Đối với số tiền này đều sử dụng vào mục đích đánh bạc và thu lợi bất chính từ việc đánh bạc được thua bằng tiền trái phép, nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước; Đối với giá đỡ điện thoại bằng gỗ của ông Lê Văn L mà bị cáo mượn để máy tính bảng, do giá trị không lớn, ông L không yêu cầu nhận lại, nên tịch thu tiêu hủy; Đối với máy tính bảng, theo lời khai của bị cáo Lê Thanh T là mua cho con Lê Thị Ngọc V để sử dụng vào việc học tập, nên thuộc sở hữu của Ngọc V, khi bị cáo T lấy sử dụng vào việc đánh bạc trái phép thì Lê Thị Ngọc V không hay biết, do đó cần trả lại cho Ngọc V sử dung là phù hợp;

. Về trách nhiệm dân sự: Không phát sinh, nên không xem xét giải quyết.

. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về án phí, lệ phí để buộc bị cáo nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

. Qua vụ án này, bị cáo Lê Thanh T nên xem đây là một bài học đáng giá cho bản thân và từ bỏ ý thức xấu xa trái pháp luật đó, đồng thời cũng cần nhắc nhở đến mọi công dân nên có ý thức nhiều hơn nữa trong việc chấp hành pháp luật, tránh xa các tệ nạn xã hội, thực hiện tốt nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, có như thế mới góp phần chung vào phong trào đấu tranh phòng chống tội phạm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ các Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự;

2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh T (T Đ), phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh T (T Đ), 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo Lê Thanh T (T Đ) chấp hành án phạt tù.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) giá đỡ điện thoại bằng gỗ (đã qua sử dụng của ông Lê Văn L); Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 3.430.000 đồng (tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc và tiền thu lợi bất chính từ việc đánh bạc trái phép của Lê Thanh T (T Đ) 3.240.000 đồng, của Nguyễn Văn C 190.000 đồng); Trả lại: 01(một) máy tính bảng, nhãn hiệu Samsung Galaxy tab A, màu đen và 01(một) sạc dự phòng màu đen (tất cả điều qua sử dụng) cho Lê Thị Ngọc V.

(Tất cả các vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp quản lý)

Buộc Nguyễn Văn T, nộp lại số tiền 90.000 đồng (tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc trái phép) để nộp vào ngân sách Nhà nước.

4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Lê Thanh T (T Đ), phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (06/01/2023). Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày niêm yết Bản án theo quy định.

6. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ