- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tiên phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 591 Bộ luật Dân sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HS-ST Ngày 05 - 01 - 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH PHƢỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Quốc Thành
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Thanh Hương
2. Ông Nguyễn Đình Như
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Đình Thuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 85 /2022/HSST ngày 30/11/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2022/QĐXXST-HS ngày 19/12/2022 đối với bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1987, tại tỉnh Cà Mau. Nơi đăng ký thường trú: ấp Đ, xã T, huyện Đ tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Lái xe; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12, con ông Nguyễn Văn H(đã chết) và bà Đoàn Thị L, sinh năm 1958. Bị cáo có 06 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1992. Bị cáo có vợ tên Trần Diễm H, sinh năm 1996. Bị cáo có con có 01 con, tên Nguyễn Trần Đăng K, sinh ngày 11/12/2018.
Tiền án: Không;
Tiền sự: Không
Ngày 28/01/2022 có hành vi điều khiển xe ô tô gây tai nạn giao thông làm chết người. Đến ngày 19/08/2022 bị khởi tố vụ án khởi tố bị can và lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Bị cáo vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
Bị hại: Nguyễn Minh H, sinh năm 1994 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Minh H:
1./Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1967, vắng mặt
2./ Bà Nguyễn Huỳnh Quỳnh H, sinh năm 2001, có mặt
Cùng địa chỉ: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước
Người đại theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn K: Bà Phan Thị H, sinh năm 1977, có mặt
Địa chỉ: 261/15/78/11 đường Đ, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
2.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Chí H, sinh năm 1996, vắng mặt
Địa chỉ: Tổ 1, khu phố 1, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước
2.4.Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Khánh D - Văn phòng luật sư Mũi Cà Màu thuộc đoàn luật sư tỉnh Cà Mau, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
Địa chỉ: Số 83 đường Đinh T H, khóm 4, phường 9, thành phố C, tỉnh Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18h45 phút ngày 28/01/2022 sau khi uống rượu xong Nguyễn Văn T một mình điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 69F1 - 624.13 lưu thông theo hướng từ xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước đi xã T, huyện Đ, tỉnh B. Khi điều khiển xe đến đoạn đường ĐT758, thuộc tổ 10, ấp H, xã T, huyện H do không chú ý quan sát và đã sử dụng rượu bia trước đó nên T điều khiển xe mô tô lấn sang phần đường bên trái theo hướng lưu thông của T và va chạm với phần đầu xe mô tô biển kiểm soát: 93E1-259.46 do Nguyễn Minh H điều khiển phía sau chở theo Nguyễn Chí H lưu thông theo hướng ngược lại. Hậu quả: Hoàng tử vong trên đường đi cấp cứu, T bị thương tích nặng, còn Hiếu bị thương tích nhẹ. Sau đó, T được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Phước rồi chuyển xuống bệnh viện Chợ rẫy tại Tp. Hồ Chí Minh. Đến tháng 3/2022, T được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Cà Mau để tiếp tục điều trị
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 28/01/2022 thể hiện như sau
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thuộc đường ĐT758, thuộc tổ 10, ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước, đường được cấu tạo bằng bê tông nhựa, đường 2 chiều có vạch sơn vàng nét đứt chia đường làm hai chiều xe chạy riêng biệt ngược chiều nhau. Mỗi phần đường rộng 2,9m, không có lề đường. Đường thẳng, mặt đường làm bằng bê tông nhựa phẳng, nhẵn, thẳng; không có chướng ngại vật, không bị che khuất; khi tiến hành khám nghiệm thời tiết khô ráo, nạn nhân được đưa đi cấp cứu, tại hiện trường chỉ có 02 xe mô tô biển kiểm soát: 93E1 - 259.46 và xe mô tô biển kiểm soát: 69E1 – 624.13.
Lấy hướng đi từ hướng đi từ xã T, huyện Đ đi Ủy ban nhân dân xã T, huyện H làm hướng chuẩn.
Lấy mép đường bên Phải theo hướng chuẩn làm mép đường chuẩn.
Lấy trụ điện số 129 bên trái đường theo hướng chuẩn làm điểm mốc.
Lấy đơn vị đo là mét (m).
Hiện trường cụ thể:
(01) Xe mô tô biển kiểm soát: 93E1 – 259.46 nằm trên mặt đường nhựa bê tông bên phải đường theo hướng chuẩn, tình trạng máy trong tình trạng ngưng hoạt động, nằm ngã sang phải, đầu xe hướng về mép chuẩn, hình chiếu tâm đầu trục bánh trước đo vào méo đường chuẩn là 1,65m, đo vào hình chiếu tâm đầu trục bánh trước (3) là 0,5m, hình chiếu tâm đầu trục bánh sau đo vào mép chuẩn là 4,7m, đo vào hình chiếu tâm đầu trục bánh sau (3) là 1,1m, đo vào điểm mốc là 9,7m.
(2) Vết cà trượt màu xám đục có chiều dài 0,13m nằm trên mặt đường bê tông nhựa bên phải đường theo hướng chuẩn, có chiều hướng ngược với hướng chuẩn. đầu đo vào mép chuẩn là 2,7m, đo vuông góc vào vạch sơn vàng phân chia đường là 0,2m, đuôi nằm dưới ốp kim loại bảo vệ bộ phận giảm thanh (1) và đo vào mép chuẩn là 2,65m.
(3) Xe mô tô biển kiểm soát: 69F1 - 624.13 sau tai nạn nằm trên mặt đường bê tông nhựa bên phải đường theo hướng chuẩn, hệ thống máy trong tình trạng ngừng hoạt động, nằm ngã nghiêng bên phải, đầu xe hướng về mép chuẩn, đuôi xe hướng ngược lại, Hình chiếu tâm đầu trục bánh trước đo vào mép chuẩn là 1,7m, đo vào hình chiếu tâm đầu trục (1) bánh trước là 0,5m, đo vào tâm (5) là 1,35m; hình chiếu tâm đầu trục bánh sau đo vào mép chuẩn là 2,5m, đo vào hình chiếu tâm đầu trục bánh sau (1) là 1,1m, đo vào tâm (4) là 1,7m
(4) Vết máu có kích thước (1,3m x 1m) màu đỏ nằm trên mặt đường bê tông nhựa bên trái đường theo hướng chuẩn, tâm đo vào mép chuẩn là 4,35m, đo vào hình chiếu tâm đầu trục bánh sau (3) là 1,7m.
(5) Vết máu có kích thước ( 0,3m x 0,35m) màu đỏ nằm trên mặt đường bê tông nhựa, bên phải đường theo hướng chuẩn, tâm đo vào mép chuẩn là 0,5m, đo vào hình chiếu tâm trục bánh trước (3 là 1,35m) .
- Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 25/2022/GĐPY ngày 16/02/2022 kết luận:
Dấu hiệu chính qua giám định:
* Đa vết thương phần mềm.
* Gẫy vỡ đa xương mặt.
* Giập não xung huyết.
Nguyên nhân chết của Nguyễn Minh H, sinh năm: 1994 bị chấn thương sọ não gây gãy vỡ đa xương sọ mặt, giập não xuất huyết dẫn đến tử vong (Bl 107).
- Căn cứ Bản kết luận giám định số 23/KL(E)- KTHS ngày 11/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Mẫu máu ghi tên Nguyễn Minh H đựng trong 01 ống nhựa niêm phong gửi giám định không tìm thấy thành phần Ethanol, Methanol (Bl 111)
- Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 163/TgT-22 ngày 06/10/2022 của Trung tâm Pháp Y tỉnh Cà Mau kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T do thương tích gây nên tại thời điểm giám định tính theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y Tế là: 93% (Chín mươi ba phần trăm).
+ Kết luận khác: Nguyễn Văn T bị tổn thương liệt tứ chi mức độ nặng thuộc trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo (Theo Nghị định số 134/2016/NĐ-CP).
- Căn cứ giấy chứng nhận thương tích số 288/CN ngày 07/09/2022 của Giám đốc bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước chứng nhận Ethanol (Cồn) của Nguyễn Văn T là: 119.3 (0 – 10.9 mmol/L)
Vật chứng thu giữ của vụ án:
- 01 xe mô tô biển kiểm soát: 93E1-259.46, số máy: KF42E1005528, số khung: RLHKF4219KY005447 Màu sơn: Trắng đen; Nhãn hiệu: Honda; Số loại: SH150I
- 01(một) xe mô tô biển kiểm soát: 69F1-624.13, số máy: JA39E1523143, số khung: RLHJA3918LY186164, màu sơn: đỏ - đen – bạc, nhãn hiệu: Honda, số loại: Wave alpha.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây ra tai nạn giao thông, bị cáo T chưa bồi thường cho gia đình bị hại, Hiện tại đại diện gia đình bị hại yêu cầu bị cáo T phải bồi thường số tiền 300.000.000đ và tiền sửa chữa xe mô tô biển kiểm soát 93E1-269.46, tuy nhiên đến nay đại diện gia đình bị hại chưa xuất trình được hóa đơn, chứng từ và yêu cầu sẽ cung cấp tại Tòa án khi xét xử, nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện H xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật
Bản cáo trạng số 89/CT-VKSNG ngày 28 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b Khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát huyện H giữ quyền công tố luận tội và tranh luận xác định lại hành vi của bị cáo, yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo.
Đối với trách nhiệm bồi thường dân sự: Gia đình bị hại yêu cầu bị cáo T phải bồi thường tiền sửa chữa xe mô tô biển kiểm soát 93E1-269.46, người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại chưa xuất trình được hóa đơn, chứng từ đề Hội đồng xét xử nghị tách ra thành một vụ án khác khi đại diện hợp pháp gia đình bị hại có yêu cầu.
Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa đồng ý với luận tội của Kiểm sát viên và hướng xử lý những vấn đề liên quan.
Người bào chữa cho bị cáo có đơn xin vắng mặt nhưng đã gửi nội dung bào chữa cho bị cáo: Về tội danh: Luật sư bào chữa không có ý kiến tranh luận giữ nguyên truy tố của Viện kiểm sát. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xem xét các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo như sau: Thứ nhất bị cáo cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi. Thứ hai bị cáo bị tổn thương liệt tứ chi mực độ nặng thuộc trường hợp hiểm nghèo. Thứ ba bị cáo có ông ngoại là liệt sĩ và là người có nhân thân tốt là nông dân, nhân thức pháp luật hạn chế, trước khi chưa phạm tôi bị cáo là lao động chính và phải nuôi con nhỏ, hiện nay bị cáo là người khuyết tật bị liệt tứ chi cần có người chăm sóc, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 65 Bộ luật hình sự, Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và nguyên đơn dân sự không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Bị cáo và người bào chưa có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do bị liệt tứ chi không đi lại là lý do bất khả kháng có xác nhận hợp pháp của công an xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Việc vắng mặt bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã cung cấp lời khai phù hợp với nội dung vụ án; người bào chữa đã gữi bài bào chưa cho bị cáo. Việc bị cáo và người bào chữa vắng mặt tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử vụ án mà vắng bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét thấy lời khai của bị cáo, lời khai của người tham gia tố tụng khác phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, bản kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xác định được: Khoảng 18h45 ngày 28/01/2022 sau khi uống rượu xong Nguyễn Văn T một mình điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 69F1 - 624.13 lưu thông theo hướng từ xã T, huyện H đi xã Thuận Phú, huyện Đồng Phú. Khi điều khiển xe đến đoạn đường ĐT758, thuộc tổ 10, ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước, bị cáo điều khiển xe mô tô lấn sang phần đường bên trái và va chạm với phần đầu xe mô tô biển kiểm soát: 93E1-259.46 do Nguyễn Minh H điều khiển phía sau chở theo Nguyễn Chí H lưu thông theo hướng ngược lại, hậu quả Nguyễn Minh H tử vong trên đường đi cấp cứu.
- Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 25/2022/GĐPY ngày 16/02/2022 kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Đa vết thương phần mềm; Gẫy vỡ đa xương mặt; Giập não xung huyết. Nguyên nhân chết của Nguyễn Minh H, sinh năm: 1994 bị chấn thương sọ não gây gãy vỡ đa xương sọ mặt, giập não xuất huyết dẫn đến tử vong
- Như vậy, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô không đi bên phải theo chiều đi của mình, điều khiển xe trong tình trạng có nồng độ cồn (119,3 miligam/100ml máu) vi phạm vào khoản 8, Điều 8 và khoản 1, Điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008 dẫn đến gây tai nạn làm chết 01 người. HĐXX xét thấy VKSND huyện H truy tố bị cáo Nguyễn Văn T Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b Khoản 2 Điều 260 của BLHS năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án thì thấy: Trật tự an toàn giao thông đường bộ được Nhà nước bảo vệ và yêu cầu mọi người khi tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm chỉnh luật giao thông. Hành vi điều khiển xe mô tô không đi bên phải theo chiều đi của mình, điều khiển xe trong tình trạng có nồng độ cồn (119,3 miligam/100ml máu của bị cáo đã vi phạm vào khoản 8, Điều 8 và khoản 1, Điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008 dẫn đến gây tai nạn làm chết người bị hại.
Xét tính chất, mức độ do hành vi của bị cáo gây ra thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự công cộng và an toàn công cộng tại địa phương; xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, bị cáo biết rõ việc điều khiển xe mô tô trong tình trạng có nồng độ cồn là hành vi bị nghiêm cấm, vi phạm nguyên tắc giao thông nhưng bị cáo vẫn tham gia thực hiện điều khiển xe mô tô cho thấy bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên cần xử phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Trước khi gây ra tai nạn bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi con nhỏ. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 163/TgT-22 ngày 06/10/2022 của Trung tâm Pháp Y tỉnh Cà Mau kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T do thương tích gây nên tại thời điểm giám định tính theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y Tế là: 93% (Chín mươi ba phần trăm) và kết luận bị cáo bị tổn thương liệt tứ chi mức độ nặng thuộc trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo; Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn hiện nay đã bị khuyết tật liệt tứ chi không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hằng ngày, bị cáo không đi lại được cần có người chăm sóc. Ngoài ra gia đình bị cáo là gia đình có công cách mạng, bị cáo có ông ngoại là liệt sĩ được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt cho bị cáo
Xét về trách nhiệm hình sự do hành vi của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo lần đầu phạm tội với lỗi vô ý do chủ quan, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, hiện nay bị cáo bị liệt tứ chi thuộc trường hợp khuyết tật không đi lại được cần người chăm sóc. Vì vậy, HĐXX xét thấy: Không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, vừa thể hiện tính khoan hồng và nhân đạo của pháp luật.
Đối với thương tích của ông Nguyễn Chí H: Ông Hiếu bị thương nhẹ, không yêu cầu giám định và có đơn từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Cần tuyên trả xe mô tô biển kiểm soát: 93E1-259.46, số máy: KF42E1005528, số khung: RLHKF4219KY005447 Màu sơn: Trắng đen; Nhãn hiệu: Honda; Số loại: SH150I cho người thừa kế của bị hại ông Nguyễn Văn K
- Đối vói xe mô tô biển kiểm soát: 69F1-624.13, số máy: JA39E1523143, số khung: RLHJA3918LY186164, màu sơn: đỏ - đen – bạc, nhãn hiệu: Honda, số loại: Wave alpha do Nguyễn Văn T là chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho gia đình bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015 để tuyên buộc bị cáo bồi thường cho ông Nguyễn Văn K cha của bị hại là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại gồm có chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi phí khác cho việc chôn cất nạn nhận theo thông lệ chung với số tiền 80.000.000 đồng và số tiền bồi thường tổn thất về tinh thần cho ông Nguyễn Văn K là 80 lương tháng cơ sở x 1.490.000 đồng = 119.200.000. Tổng cộng bị cáo phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn K 199.200.000 đồng.
- Đối với việc yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí sửa xe mô tô 93E1-259.46, số máy: KF42E1005528, số khung: RLHKF4219KY005447 Màu sơn: Trắng đen; Nhãn hiệu: Honda; Số loại: SH150I căn cứ Điều 30 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 cần tách ra để giải quyết trong vụ án khác khi ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Huỳnh Quỳnh Hương khi có đơn yêu cầu và cung cấp chứng cứ chứng minh cho thiệt hại theo thủ tục tố tụng dân sự.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp nên được chấp nhận
Quan điểm bào chữa của luật sư bào chữa cho bị cáo là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Xét về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng các điều 23 và 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 9.960.000 đồng
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 260; điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS năm 2015:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 5 (năm) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 05/01/2023).
Giao bị cáo Nguyễn Văn T về Uỷ ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: Tuyên trả xe mô tô biển kiểm soát: 93E1-259.46, số máy: KF42E1005528, số khung: HKF4219KY005447, màu sơn: Trắng đen; Nhãn hiệu: Honda; Số loại: SH150I cho người thừa kế của bị hại ông Nguyễn Văn K. (Vật chứng đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện H theo Biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản số 0005876 ngày 02/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bình Phước)
4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của BLHS; Điều 589, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự; Điều 30 của BLTTHS: Buộc bị cáo bồi thường cho người thừa kế của bị hại ông Nguyễn Văn K 199.200.000đ (Một trăm chín mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng)
- Áp dụng Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tách phần bồi thường chi phí sửa xe mô tô 93E1-259.46, số máy: KF42E1005528, số khung: RLHKF4219KY005447 Màu sơn: Trắng đen; Nhãn hiệu: Honda; Số loại: SH150I để giải quyết trong vụ án khi ông Nguyễn Văn K có đơn yêu cầu theo thủ tục tố tụng dân sự.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng các điều 23 và 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 9.960.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Bị cáo, người có quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện H; - Công an huyện H; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước; - Chi cục THADS huyện H; - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: TA, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dƣơng Quốc Thành |