- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Bình - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tội danh: bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HS-ST Ngày 21-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đào Văn Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đoàn Thân và bà Nguyễn Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Minh Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hùng Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 84/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023, đối với:
Bị cáo: Nguyễn Đình B; sinh năm: 1977; tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: đường Nguyễn Công T, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T và bà Lê Thị Thúy M; có vợ là: Võ Thu T và 02 con; tiền án: ngày 11/09/2000, bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa thi hành khoản tiền án phí và bồi thường thiệt hại; ngày 18/09/2002, bị Tòa án nhân dân quận Đ, TP. Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa thi hành khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm; tiền sự: không; nhân thân: năm 1994 và năm 1997, bị Công an phường T, thị xã N xử phạt Cảnh cáo về hành vi phạm hành chính “Gây rối trật tự công cộng”; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/07/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Người làm chứng: anh Vũ Xuân T, sinh năm 1985; địa chỉ: số nhà 15, ngõ 63, phố Tây Sơn 3, phường Thanh Bình, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 01 giờ 15 phút ngày 21/7/2022, tổ công tác Công an huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Công an xã Y, huyện H và Công an thị xã B, tỉnh Thanh Hóa làm nhiệm vụ trên quốc lộ 1A, thuộc địa phận thôn Y, xã Y, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, phát hiện một xe ôtô taxi, nhãn hiệu Mai Linh, biển kiểm soát 35A- 111.01, do Vũ Xuân T điều khiển đang dừng xe bên đường chiều hướng Hà Nội đi Thanh Hóa có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra và phát hiện Nguyễn Đình B ngồi trong xe tại ghế bên phải cạnh ghế lái ném qua cửa phía trước bên phải của xe ôtô 01 (một) hộp giấy, tổ công tác đã thu giữ và kiểm tra hộp giấy, phát hiện bên trong có 03 (ba) túi nilon màu trắng, viền màu đỏ, kích thước mỗi túi khoảng 4cm x 7cm, bên trong mỗi túi đều chứa chất bột màu trắng ngà, dạng cục, nghi là ma túy và 01 (một) túi nilon màu trắng, viền màu đỏ, kích thước khoảng 5cm x 8cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, nghi là ma túy. Tiến hành kiểm tra người Nguyễn Đình B và xe ôtô nhưng không phát hiện và thu giữ gì thêm. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng trong phong bì ký hiệu “vụ Nguyễn Đình B”. Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Đình B, cơ quan điều tra không thu giữ được gì.
Tại Bản kết luận giám định số 2554/KL-KTHS ngày 27/07/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: chất bột màu trắng ngà dạng cục của phong bì niêm phong ký hiệu “vụ Nguyễn Đình B” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 5,417g (năm phẩy bốn một bảy gam), loại Heroine; các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu “vụ Nguyễn Đình B” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,953g (một phẩy chín năm ba gam), loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Nguyễn Đình B khai nhận: nguồn gốc ma túy Công an thu giữ được là của Bình mua từ một người không quen biết ở trong nhà của chị Nguyễn Thị O, đường Phạm Ngũ L, thành phố N, tỉnh Nam Định với giá 8.700.000đ (tám triệu bảy trăm nghìn đồng), nhằm mục đích sử dụng.
Căn cứ lời khai của Nguyễn Đình B, cơ quan điều tra tiến hành xác minh và khám xét khẩn cấp tại nơi cư trú của Nguyễn Thị O, sinh năm 1976, tại tổ dân phố G, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định nhưng gia đình Nguyễn Thị O khóa cửa, không ai có ở nhà nên không thực hiện được việc khám xét khẩn cấp. Qua xác minh, Nguyễn Thị O đã lâu không sinh sống tại nơi cư trú và cũng không xác định được hiện nay Nguyễn Thị O làm gì, ở đâu.
Cáo trạng số 06/CT-VKSHT ngày 30 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như Cáo trạng đã truy tố; đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm n, o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; xử phạt bị cáo Nguyễn Đình B từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định và các vật chứng đựng ma túy được đựng trong phong bì niêm phong theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/02/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Trung và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung; buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về tội danh: lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được và bản kết luận giám định, đủ cơ sở khẳng định: vào hồi 01 giờ 15 phút, ngày 21/07/2022, tại thôn Y, xã Y, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Công an huyện Hà Trung phối hợp với Công an xã Yên Dương và Công an thị xã B, tỉnh Thanh Hóa bắt quả tang Nguyễn Đình B đang tàng trữ trái phép 04 (bốn) túi ma túy có tổng khối lượng 7,370 gam nhằm mục đích sử dụng, trong đó có 5,417 gam loại Heroin và 1,953 gam loại Methamphetamin. Nguyễn Đình B là đối tượng đã hai lần bị kết án, tại bản án hình sự sơ thẩm số 308/HSST ngày 11/09/2000 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội đã xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội, tại bản án hình sự sơ thẩm số 432/HSST ngày 18/09/2002 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội đã áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” và xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung truy tố bị cáo Nguyễn Đình B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo các điểm n, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét tính chất vụ án: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Đây là chất gây nghiện, có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người, là một trong những nguyên nhân chính gây ra các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Mặt khác, bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu và có hai tiền án, chưa được xóa án tích nhưng vẫn tiếp tục phạm tội, điều đó cũng cho thấy bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội. Vì vậy, phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.
. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bố đẻ của bị cáo được Nhà nước tặng thưởng “Huân chương kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất”, thuộc trường hợp là người có công với nước nên được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng những tình tiết này để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nghề nghiệp là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Đối với người bán ma túy cho bị cáo trong ngôi nhà của Nguyễn Thị O, quá trình điều tra không xác định được Nguyễn Thị O và gia đình ở đâu. Vì vậy, đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ và xử lý sau nếu có căn cứ.
. Về vật chứng: khối lượng ma túy cơ quan điều tra thu giữ được còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên phải tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 (một) gói giấy hình hộp, bên trong đựng 03 (ba) túi nilon màu trắng có viền màu đỏ và 01 (một) túi nilon màu trắng có viền màu đỏ là những vật chứng bị cáo sử dụng đựng ma túy, không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm n, o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Tội danh: bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Đình B 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 21/07/2022.
3. Vật chứng: tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định, 01 (một) gói giấy hình hộp và 04 (bốn) túi nilon màu trắng được đựng trong phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kín, niêm phong (đặc điểm của phong bì niêm phong theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/02/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Trung và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung).
4. Án phí: buộc bị cáo Nguyễn Đình B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá; - Cơ quan điều tra Công an huyện Hà Trung; - Cơ quan THAHS Công an huyện Hà Trung; - Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Trung; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Hội thẩm nhân dân Đoàn Thân Nguyễn Thị Hương | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đào Văn Nam Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đào Văn Nam |