vanban.org

Bản án 02/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Trần Như Th được ly hôn anh Võ Thành T.

Về con chung: Giao cháu Võ Châu Quỳnh Nh, sinh ngày 29/11/2014 cho chị Trần Như Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi), anh Võ Thành T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở ngườ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Như Th được ly hôn anh Võ Thành T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Trần Như Th được ly hôn anh Võ Thành T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HƯƠNG THỦY
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11 - 01- 2023.
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Vinh Phú.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tấn Quốc và ông Nguyễn Văn Phương.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Hiệp - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế: Bà Trương Thị Khánh Nhạc - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy (Số 06 Đặng Tràm, phường Phú Bài, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 135/2022/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Như Th, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số nhà 28 Tây Trì Nhơn, Tổ 9, phường Phú Thượng, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Võ Thành T, sinh năm 1992; Địa chỉ: kiệt 18/10 Tân Trào, Tổ 2, phường Phú Bài, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt không có lý do (lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, trình bày của nguyên đơn tại bản tự khai và biên bản hòa giải, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Như Th và anh Võ Thành T kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Phú Bài, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế ngày 07/10/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống với nhau tại nhà bố mẹ anh T tại phường Phú Bài, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Từ năm 2016 cho đến nay, hai vợ chồng sống ly thân, không ai còn quan tâm gì đến nhau nữa, bỏ mặc nhau trong cuộc sống, nay chị Th thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Võ Thành T.

Về con chung: Chị Trần Như Th và anh Võ Thành T có 01 người con chung tên là Võ Châu Quỳnh Nh, sinh ngày 29/11/2014. Chị Th yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nh đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi) và chị Th không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản: Chị Trần Như Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo cho anh Võ Thành T biết việc chị Th xin ly hôn nhưng trong thời hạn luật định anh T không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án cũng đã 02 lần Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn đều vắng mặt dù đã được tống đạt hợp lệ nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án và Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại biên bản lấy ý kiến ngày 09/11/2022, cháu Võ Châu Quỳnh Nh, sinh ngày 29/11/2014, là con của chị Trần Như Th và anh Võ Thành T, có nguyện vọng được sống với mẹ nếu bố mẹ cháu ly hôn.

Tại biên bản xác minh ngày 12/12/2022, đại diện UBND phường Phú Bài, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, đã cho biết: Vợ chồng chị Trần Như Th và anh Võ Thành T chung sống với nhau tại nhà bố mẹ anh T được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Chị Th đã bỏ về nhà ngoại ở và hai vợ chồng sống ly thân. Hai vợ chồng có một người con chung và hiện đang ở với chị Th.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 12/12/2022, bà Dương Thị Thu là mẹ ruột của anh Võ Thành T cho biết, từ năm 2016 chị Th đem cháu Võ Châu Quỳnh Nh về nhà ngoại ở. Hai gia đình cũng cố gắng tìm cách hàn gắn nhưng không được. Kể từ thời gian đó cho đến nay hai vợ chồng sống ly thân. Mâu thuẫn của chị Th và Tài đến nay không thể hàn gắn vì sống ly thân đã lâu. Những văn bản tố tụng Tòa án gửi cho bà để giao lại cho anh T thì bà Thu đã đưa lại cho anh T đọc nhưng Tài không chịu đến Tòa án. Tài cũng biết việc chị Th yêu cầu ly hôn nhưng không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa ngày 18/12/2022, anh Võ Thành T vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 11/01/2023, đồng thời tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa lần thứ hai, bị đơn tiếp tục vắng mặt.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy phát biểu ý kiến: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định pháp luật. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt là vi phạm Điều 70; Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Căn cứ các quy định pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Như Th được ly hôn với anh Võ Thành T; giao cháu Võ Châu Quỳnh Nh, sinh ngày 29/11/2014 cho chị Trần Như Th được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi); không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng, tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản; anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, con không ai được cản trở; chị Th phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Như Th khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Võ Thành T, có nơi cư trú tại: Tổ 02, phường Phú Bài, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị Trần Như Th và anh Võ Thành T đến tham gia tố tụng tại phiên tòa lần thứ hai. Chị Th đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh T vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Trần Như Th và anh Võ Thành T.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Như Th và anh Võ Thành T sau khi tìm hiểu nhau đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Phú Bài, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế ngày 07/10/2015 nên Hội đồng xét xử xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Hai người đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay, không ai còn quan tâm gì đến nhau, bỏ mặc nhau trong cuộc sống. Nay chị Th thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Võ Thành T. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh T đến trình bày ý kiến và hòa giải, nhưng anh T không đến, chứng tỏ anh T không có thiện chí khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Hội đồng xét xử thấy rằng: Tình trạng hôn nhân của chị Th, anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu của chị Trần Như Th được ly hôn với anh Võ Thành T.

- Về con chung: Chị Trần Như Th và anh Võ Thành T có 01 người con chung tên là Võ Châu Quỳnh Nh, sinh ngày 29/11/2014. Chị Th yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nh đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi) và chị Th không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi chị Th và anh T sống ly thân, cháu Võ Châu Quỳnh Nh do chị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến nay. Nguyện vọng của cháu Nh mong muốn ở với chị Th. Để đảm bảo cuộc sống ổn định về tinh thần và vật chất cho cháu Nh phát triển một cách bình thường và đầy đủ về thể chất nên cần tiếp tục giao cháu Nh cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi đủ tuổi thành niên. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của chị Th.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản: Chị Trần Như Th và anh Võ Thành T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí ly hôn: Chị Trần Như Th phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Trần Như Th được ly hôn anh Võ Thành T.

2. Về con chung: Giao cháu Võ Châu Quỳnh Nh, sinh ngày 29/11/2014 cho chị Trần Như Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi), anh Võ Thành T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung: Không có ai yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Như Th phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng mà chị Trần Như Th đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0003619 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy. Chị Th đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ