- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Hoàng Quốc H và bà Đoàn Thị S.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28-02-2023 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạc Văn Hên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị An.
2. Bà Lâm Lệ Oanh.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Tú, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên tham gia phiên toà: Bà Lâm Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 191/2022/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 11 năm 2022 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị S, sinh năm 1980. Địa chỉ: Tổ A, khu phố N, phường C, thành phố T, tỉnh Kiên Giang, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Hoàng Quốc H, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ A, khu phố N, phường C, thành phố T, tỉnh Kiên Giang, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 24/10/2022 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn bà Đoàn Thị S trình bày: Bà và ông Hoàng Quốc H chung sống với nhau tại Hà Tiên từ năm 2010 nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, ông H có người phụ nữ bên ngoài, không quan tâm đến cuộc sống gia đình, vợ chồng đã ly thân từ tháng 10/2022. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Hoàng Quốc H.
Về con chung: Có một đứa con tên Hoàng Minh H, sinh ngày 27/8/2012 đang sống cùng ông H, ly hôn bà đồng ý giao con cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và không cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Vợ chồng đã tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Hoàng Quốc H trình bày: Ông và bà Đoàn Thị S chung sống với nhau từ năm 2010 nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn dẫn đến cự cải và có đánh vào mặt bà S, vợ chồng đã ly thân từ tháng 8/2022 (âm lịch), bà S làm đơn xin ly hôn ông đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có một đứa con tên Hoàng Minh H, sinh ngày 27/8/2012, hiện nay đang sống cùng với ông, ly hôn ông xin được tiếp tục nuôi con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu bà Sô cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Thống nhất theo lời trình bày của bà Đoàn Thị S.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên phát biểu về việc tuân theo tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Bà Đoàn Thị Sô và ông Hoàng Quốc H chung sống với nhau từ năm 2010 nhưng không có đăng ký kết hôn, trong quá trình chung sống ông bà thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, bà S xin ly hôn ông H đồng ý ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đoàn Thị S và ông Hoàng Quốc H. Về con chung có một đứa con tên Hoàng Minh H, sinh ngày 27/8/2012, ly hôn ông bà thống nhất giao con cho ông H nuôi dưỡng và không yêu cầu bà S cấp dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận; Về tài sản chung đã tự thỏa thuận phân chia và về nợ chung không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết; Về án phí bà S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp ly hôn. Trong vụ án này bị đơn ông Hoàng Quốc H cư trú tại Tổ A, khu phố N, phường C, thành phố T, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên.
[2] Về hôn nhân: Ông Hoàng Quốc H và bà Đoàn Thị S chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2010 nhưng không có đăng ký kết hôn. Qua xác minh tại địa phương cho thấy ông bà chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của ông bà không có giá trị pháp lý. Xét thấy, trong quá trình chung sống ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, ông bà đã ly thân không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa, quan hệ hôn nhân của ông bà lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà S xin ly hôn ông H đồng ý ly hôn. Do đó, cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Hoàng Quốc H và bà Đoàn Thị S.
Về con chung: Ông bà có một đứa con tên Hoàng Minh H, sinh ngày 27/8/2012, giới tính nam. Ly hôn, ông bà thống nhất giao con cho ông H nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của con nên cần giao con cho ông H nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ghi nhận sự tự nguyện của ông H không yêu cầu bà Sô cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Ông bà đã tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Ông bà trình bày không có nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Đoàn Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Hoàng Quốc H và bà Đoàn Thị S.
2. Về con chung: Giao con tên Hoàng Minh H, sinh ngày 27/8/2012, giới tính nam cho ông Hoàng Quốc H nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ghi nhận ý kiến của ông H không yêu cầu bà Sô cấp dưỡng nuôi con chung. Ông H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung: Ông bà đã tự thỏa thuận phân chia nên không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Đoàn Thị S phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001402 ngày 10 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang nên bà không phải nộp thêm.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND thành phố Hà Tiên; - Chi cục THADS thành phố Hà Tiên; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Mạc Văn Hên |