- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H - Tr ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST Ngày: 04 - 01 - 2023 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Ngọc Nam;
2. Ông Trần Thanh Việt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Bích - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố X.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 04 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 476/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2022 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 491/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 459/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Cẩm H, sinh năm 1993
Cư trú: số 16/11, khóm A, phường Th, thành phố X, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Ông Trần Minh Tr, sinh năm 1990
Cư trú: số 589/7, Tổ 7, khóm Đ, phường X1, thành phố X, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa bà H vắng mặt và có đơn xin vắng mặt; ông Tr vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trịnh Thị Cẩm H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà Trịnh Thị Cẩm H và ông Trần Minh Tr tự nguyện quen biết nhau, tìm hiểu và sau đó tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường X1 vào năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn, hai bên không hợp nhau cả về tư tưởng lẫn cách sống, mâu thuẫn giữa con dâu và mẹ chồng, vợ chồng không cùng lo làm ăn mà để một mình bà phải lo kinh tế, lo trả nợ. Cuộc sống không hạnh phúc kéo dài từ lúc bà H có bầu con đến giờ. Đến nay, bà H không thể chịu đựng được nữa nên vợ chồng chia tay không còn chung sống cách đây đã 01 năm, bà H và con thì ở trọ, còn ông Tr về nhà mẹ đẻ ở. Hiện nay vợ chồng đã không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà H yêu cầu được ly hôn ông Tr.
Về con chung: bà H và ông Tr có 01 con chung là cháu Trần Ngọc A1, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2015. Từ khi sinh ra đến nay, con đều do một tay bà H chăm sóc. Bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không cần ông Tr cấp dưỡng, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trần Minh Tr: không cung cấp ý kiến, tài liệu, chứng cứ về việc giải quyết vụ án.
Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải nhưng đương sự vắng mặt nên không thể hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên tòa, bà H vắng mặt và có đơn yêu cầu vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông Tr vắng mặt và không cung cấp thêm ý kiến, tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Trịnh Thị Cẩm H và ông Trần Minh Tr kết hôn có đăng ký kết hôn; bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn, yêu cầu giải quyết vấn đề con chung, còn ông Tr là người có địa chỉ cư trú trên địa bàn thành phố X. Nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang.
Về thủ tục tố tụng: ông Trần Minh Tr đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Tr vẫn vắng mặt không lý do. Bà Trịnh Thị Cẩm H vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp:
Về quan hệ hôn nhân: bà Trịnh Thị Cẩm H và ông Trần Minh Tr tự nguyện quen biết, tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường X1, thành phố X, tỉnh An Giang. Bà H kiên quyết xin ly hôn vì bà cho rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không còn tình cảm, ông Tr không cùng bà chăm lo kinh tế, nên bà không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng với ông Tr. Về phía ông Tr đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để giải quyết vụ án nhưng vẫn vắng mặt và không cung cấp ý kiến, điều này thể hiện ông Tr không có nguyện vọng đoàn tụ gia đình. Thực tế, ông Tr và bà H đã không còn chung sống từ năm 2021 đến nay. Xét thấy: Để cuộc sống gia đình hạnh phúc, mục đích hôn nhân đạt được thì vợ chồng phải có tình cảm tự nguyện từ hai phía, chung thủy, tin tưởng, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vợ chồng phải chung tay cùng nhau xây dựng tổ ấm. Nhưng bà H và ông Tr đều không thực hiện được những điều này để cuộc sống gia đình được hạnh phúc, hôn nhân bền vững, mục đích hôn nhân đạt được. Do đó yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung và cấp dưỡng cho con chung: bà H xác định bà và ông Tr có một con chung là cháu Trần Ngọc A1, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2015 hiện đang do bà H chăm sóc, nuôi dưỡng; và bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Còn ông Tr cũng không cung cấp ý kiến về vấn đề này. Cháu Trần Ngọc A1 thể hiện rõ nguyện vọng của cháu mong muốn được tiếp tục sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Xét thấy: cháu Trần Ngọc A1 do bà H nuôi dưỡng, chăm sóc từ khi chào đời đến nay. Do đó, cần ổn định việc nuôi con để tránh ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, tinh thần của cháu Trần Ngọc A1, tạo điều kiện cho cháu phát triển bình thường. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H về việc nuôi con chung và không xem xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Tr cũng không cung cấp ý kiến về vấn đề này. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề tài sản chung và nợ chung.
Về án phí: bà H phải chịu án phí trong vụ án hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; các Điều 147; 227; 228; 238; 266; 271; 273; 278; 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 19; 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83; 84; 107; 110; 116; 117; 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân:
Bà Trịnh Thị Cẩm H được ly hôn với ông Trần Minh Tr.
2. Về con chung:
Bà Trịnh Thị Cẩm H và ông Trần Minh Tr có 01 (một) con chung là cháu Trần Ngọc A1, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2015.
Bà Trịnh Thị Cẩm H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, trông nom, giáo dục cháu Trần Ngọc A1. Bà Trịnh Thị Cẩm H và thành viên gia đình không được cản trở ông Trần Minh Tr trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Ngọc A1.
Người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn có thể thay đổi theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng: không xem xét.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng cho con chung có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nêu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét.
4. Về án phí:
Bà Trịnh Thị Cẩm H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000965 ngày 27 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố X (đã nộp xong).
5. Về quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND t. An Giang (phòng KTNV-THA); - VKSND tp. X; - Các đương sự; - Chi cục THADS tp. X; - UBND p. X1, X, An Giang; (GCNKH số 83 ngày 09-11-2015) - Văn phòng; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Thanh Việt Huỳnh Văn Nam | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thùy Giang THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thùy Giang |