- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H-T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Hiền.
- Căn cứ chính? Quyết định số 326/2014/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung Quy…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 02 /2023/HNGĐ- ST Ngày: 09 - 01 - 2023 “V/v: Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Văn Điền
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nguyễn Minh Sơn
+ Bà Mai Lương Anh
Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Phú - Là thư ký Toà án của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Bích Hợp- Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 560/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2022 về “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2022/QĐST-HNGĐ ngày 19/12/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1985.
Địa chỉ: 54B Nguyên Tử Lực, phường , thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: Ông Đặng Văn T, sinh năm: 1983
Địa chỉ: 54B Nguyên Tử Lực, phường , thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
(Bà Hiền có mặt, ông Toản vắng mặt )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 9 năm 2022 nộp tại Tòa án thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hiền Trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị H kết hôn với ông Đặng Văn T vào năm 2008, tại Ủy ban nhân dân xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Hôn nhân tự nguyện có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông T thường xuyên đánh đập bà H và cải nhau, không có hạnh phúc, mặc dù hai vợ chồng cũng đã nhiều lần hòa gải nhưng không có kết quả. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn ông T.
Về con chung: Có 02 con tên Đặng Thanh H, sinh ngày 18/02/2009 và Đặng Quang H, sinh ngày 23/01/2013. Hiện nay cháu H đang ở với bà H và cũng có nguyện vọng được ở với mẹ nên bà H đồng ý nuôi cháu H, cháu H hiện đang ở với ba và có nguyện vọng được ở với ba nên bà H đồng ý giao cháu H cho ông Đ Văn T là bố trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con thành niên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa giải quyết
Về nợ chung: không có.
Theo bản tự khai ngày 19/10/2022 của bị đơn Trình bày:
Ông Đặng Văn Toản kết hôn với bà Nguyễn Thị H vào năm 2008, tại Ủy ban nhân dân xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế ông T, bà H kết hôn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn thì vợ chồng vào thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, sinh sống cho đến nay. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bà H có bồ bịch bên ngoài. Nguyện vọng được ly hôn.
Về con chung: Có 02 con chung tên Đặng Thanh H, sinh ngày 18/02/2009 và Đặng Quang H, sinh ngày 23/01/2013. Hiện nay cháu H đang ở với bà H và cũng có nguyện nguyện vọng được ở với mẹ nên ông T đồng ý giao cháu H cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, cháu H hiện đang ở với ba và có nguyện vọng được ở với ba nên bà H đồng ý giao cháu H cho ông Đặng Văn T là bố trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, ông Đặng Văn T đã được tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập theo quy định nhưng ông không đến Tòa để trình bày ý kiến mà có đơn xin xét xử vắng mặt. Nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy; Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên Tòa hôm nay: Bà Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn ông Đặng Văn T.
Về con chung có 02 con và theo nguyện vọng của cháu H là ở với ba nên giao cháu H cho ông Đặng Văn T là bố trực tiếp nuôi dưỡng và cháu H có nguyện vọng được ở với mẹ nên bà H đồng ý nuôi cháu H. Không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa giải quyết
Về nợ chung: không có.
Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Vụ án thụ lý đúng trình tự theo luật quy định. Về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán từ khi nhận đơn đến lúc đưa vụ án ra xét xử, xác định tư cách tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự cũng như chứng cứ của vụ án, việc hòa giải đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đảm bảo đúng quy định. Đồng thời đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung: Theo nguyện vọng của hai con, cháu H có nguyện vọng ở với ba nên giao cháu Hà cho ông Đặng Văn T là ba trực tiếp nuôi dưỡng, cháu H có nguyện vọng ở vớ mẹ nên giao cháu H cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con thành niên không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Nguyễn Thị H yêu cầu ly hôn Đặng Văn T, nên xác định quan hệ tranh chấp“Xin ly hôn” theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại địa phương. Vì vậy; xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó: Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về quan hệ hôn nhân: H và ông T có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, hôn nhân tự nguyện, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, ông Toản thường xuyên đánh đập bà Hiền và vợ chồng thường xuyên cải vả không có hạnh phúc .
Tại phiên hòa giải cũng như phiên tòa hôm nay bà H không đồng ý đoàn tụ gia đình và xác định tình cảm không còn, hôn nhân không thể tiếp tục. Từ khi thụ lý vụ án đến ngày đưa vụ án ra xét xử, Tòa đã tống đạt triệu tập hợp lệ cho ông Toản nhưng ông T vẫn không đến Tòa trình bày ý kiến và để hòa giải, và có đơn xin vắng mặt thể hiện không mong muốn đoàn tụ. Qua lời khai của nguyên đơn tại phiên tòa cũng như các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ thể hiện việc mâu thuẫn của vợ chồng là thực tế có xảy ra.
Qua xác minh tại địa phương việc mâu thuẫn của vợ chồng không ai biết vì không có đơn thư yêu cầu hòa giải, không báo với tổ nên không có cơ sở cung cấp cho tòa. Do đó; áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hiền.
Về con chung: Theo nguyện vọng của hai con, cháu H có nguyện vọng ở với ba nên giao cháu H cho ông Đặng Văn T là ba trực tiếp nuôi dưỡng, cháu H có nguyện vọng ở với mẹ nên giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con thành niên không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có.
Về án phí: Bà Hiền chịu toàn bộ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, 35, 36, 39, 147 và Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ vào Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2014/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Hiền. Cho bà Nguyễn Thị Hiền và ông Đặng Văn Toản được ly hôn.
2. Về con chung: có hai con chung tên Đặng Thanh H, sinh ngày 18/02/2009 và Đặng Quang H, sinh ngày 23/01/2013 theo nguyện vọng của các con nên giao cháu Đặng Thanh Hà, sinh ngày 18/02/2009 cho ông Đặng Văn T là ba trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Đặng Quang H, sinh ngày 23/01/2013 cho bà Nguyễn Thị H là mẹ trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con thành niên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp, không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về án phí: bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm (được trừ toàn bộ vào số tiền 300.000đồng bà H đã tạm nộp theo biên lai thu số: 0002179 ngày 05 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng).
Quyền kháng cáo:
Bà Nguyễn Thị H có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng ông Đặng Văn T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ( niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND TP Đà Lạt; - Chi cục THA Đà Lạt; - UBND, xã Phú Thương- Phú Vang, Thừa Thiên Huế . - Đương sự; - Lưu; | TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Điền |