- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn giữa Lý Thị L và Phan Đức T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27/02/2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Mai
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nông Văn Vụ
2. Ông Lã Văn Luật
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đàm Thế Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lý Thị L - sinh năm 1995.
HKTT: tổ 05, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Chỗ ở hiện nay: tổ 10, thị trấn T, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
2. Bị đơn: Ông Phan Đức T- sinh năm 1987.
HKTT: tổ 05, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Hiện nay đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/12/2022 và bản tự khai nguyên đơn bà Lý Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phan Đức T kết hôn ngày 09/01/2017, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu, tổ chức lễ cưới ở hai bên gia đình, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Khi cưới bà và ông T đều là lao động tự do. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 9/2020 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp. Vợ chồng xảy ra cãi vã nhiều lần. Gia đình hai bên và tự bản thân vợ chồng đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Trong thời gian mâu thuẫn vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 9/2020 đến nay. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 (một) con chung là Phan Thị Ánh T - sinh ngày 27/10/2017 (Giới tính: Nữ). Trường hợp ly hôn, bà là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung; không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 18/01/2023, bị đơn ông Phan Đức T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Lý Thị L kết hôn ngày 30/01/2017, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, tổ chức lễ cưới ở hai bên gia đình, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Khi cưới cả hai cùng là lao động tự do. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2022, bà L đi làm tại Công ty Samsung Bắc Ninh và có quan hệ với người đàn ông khác. Từ đó, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Vợ chồng đã tự hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Ông xác định tình cảm vợ chồng đã trầm trọng, bà L yêu cầu ly hôn ông nhất trí.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 (một) con chung là Phan Thị Ánh T - sinh ngày 27/10/2017 (Giới tính: Nữ). Trường hợp ly hôn, bà L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành; không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng dân sự, không có vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014 đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị L.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị L được ly hôn với ông Phan Đức T.
Về con chung: Giao con chung Phan Thị Ánh T - sinh ngày 27/10/2017 (Giới tính: Nữ) cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Lý Thị L phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1]. Về tố tụng: Bà Lý Thị L khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với ông Phan Đức T trú tại tổ 05, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Về sự vắng mặt của các bên đương sự: Các bên đương sự đều có đơn giải quyết vắng mặt tại Tòa án. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị L và ông Phan Đức T kết hôn năm 2017, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, được tìm hiểu, tổ chức lễ cưới ở hai bên gia đình, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
. Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Sau khi kết hôn, bà L và ông T chung sống hòa thuận hạnh phúc được một khoảng thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp. Hai vợ chồng hiện đã sống ly thân. Các bên đương sự xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể sống chung. Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà L và ông T đã thực sự không còn tình cảm, cuộc sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn đã đến mức độ trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận đề nghị xin ly hôn của bà L.
. Về con chung: Quá trình chung sống, bà L và ông T có một con chung là Phan Thị Ánh T - sinh ngày 27/10/2017 (Giới tính: Nữ). Theo tài liệu trong hồ sơ vụ án, các đương sự đều thể hiện ý kiến sau khi ly hôn, bà L sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Mặt khác, hiện nay ông T đang bị tạm giam trong một vụ án hình sự, không có điều kiện để chăm sóc con chung. Như vậy, cần giao con chung cho bà L nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
. Về tài sản chung, nợ chung: Bà L và ông T xác nhận tài sản chung, nợ chung đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị L.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị L được ly hôn với ông Phan Đức T.
[2]. Về con chung: Giao con chung là Phan Thị Ánh T - sinh ngày 27/10/2017 (Giới tính: Nữ) cho bà Lý Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người đang trực tiếp nuôi con. Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
[3]. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lý Thị L và ông Phan Đức T xác nhận tài sản chung, nợ chung đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.
[4]. Về án phí: Bà Lý Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước đối với yêu cầu xin ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Lý Thị L đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003332 ngày 11/01/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Bà Lý Thị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự (vắng mặt tại phiên tòa có lý do) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát TP Cao Bằng; - Thi hành án DS TP Cao Bằng; - Đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quỳnh Mai |