| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM P TỈNH QUẢNG N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST Ngày: 05 - 01 - 2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM P
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Loan Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Đinh Thị Khang
2. Bà Mai Tường Vi
-Thư ký Tòa án: Bà Lê Thị TH Thảo -Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Quỳnh Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 05/01/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cẩm P xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 86/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/11/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16/12/2022 giữa các đương sự:
1-Nguyên đơn: chị Lê Thị Ng - sinh năm 1982;
Nơi cư trú: Tổ 10, khu 1A, phường Cẩm Trung, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N; chỗ ở hiện nay: tổ 7, khu 1A, phường Quang H, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, có mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử án vắng mặt).
2-Bị đơn: anh Trần Thành M - sinh năm 1977;
Nơi cư trú: Tổ 4, khu 10B, phường Quang H, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1-Trong đơn khởi kiện đề ngày 20/9/2022, bản tự khai đề ngày 18/10/2022 và đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 03/01/2023, nguyên đơn chị Lê Thị Ng trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Ng và anh Trần Thành M có đăng ký kết hôn vào ngày 10/12/2003 tại Ủy ban nhân dân phường Cẩm Trung, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N trên cơ sở tự nguyện, trước khi kết hôn chưa ai có vợ có chồng. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị Ng chung sống không hợp với anh M và mẹ đẻ anh M; giữa chị với anh M và mẹ đẻ M không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm về mọi mặt trong cuộc sống. Bản thân anh M là người sống không có tình cảm, thô lỗ, có lần anh M đánh chị chảy máu đầu, thâm tím cả người. Năm 2019, anh M chơi bời sa vào tệ nạn xã hội vi phạm pháp luật về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm P xử phạt 12 tháng tù giam. Trong thời gian anh M đi chấp hành án, chị đưa con về ngoại ở, sau đó được gia đình bên ngoại hỗ trợ mua cho ba mẹ con một căn nhà nhỏ ở tổ 7, khu 1A, phường Quang H, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N và sinh sống ở đó cho đến nay. Sau khi anh M chấp hành án tù trờ về, mặc dù chị không đồng ý cho anh M về ở cùng ba mẹ con ở tổ 7, khu 1A, phường Quang H nhưng anh M vẫn cố tình đến ở. Từ khi anh M về ở chung thì chị và anh M thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau, anh M ghen tuông chửi bới xúc phạm chịvà lần gần đây nhất khoảng tháng 6/2022 anh M đã khóa cửa đánh chị bên trong nhà, sau đó chị Pi báo công an phường Quang H đến giải quyết. Cũng kể từ sau ngày anh M đánh chị thì vợ chồng chị ly thân, anh M và con trai lớn về nhà bố mẹ đẻ ở tổ 4, khu 10B, phường Quang H ở, còn chị và con gái thì vẫn ở nhà tại tổ 7, khu 1A, phường Quang H.Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 6/2022 cho đến nay. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Trần Thành M.
- Về con chung: Vợ chồng chị có 02 (hai) con chung là Trần Thành Nam (sinh ngày 01/8/2004) và Trần TH Nga (sinh ngày 02/11/2005). Con chungTrần Thành Nam đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị đề nghị giao con chung Trần TH Nga cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi con chung Trần TH Nga đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh M Pi cấp dưỡng nuôi con chung Trần TH Nga.
- Về tài sản chung, vay nợ chung: Không có.
2- Đối với bị đơn anh Trần Thành M: Tòa án nhân dân thành phố Cẩm P đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đến trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cẩm P để giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ng đối với anh Trần Thành M nhưng anh M đều vắng mặt không có lý do.
3- Xác nhận của khu trưởng tổ 4, khu 10B, phường Quang H, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N nơi anh M, chị Ng chung sống và tại Biên bản lấy lời khai người làm chứng bà Hoàng Thị Hoa (mẹ đẻ của anh Trần Thành M) và Biên bản lấy lời khai của cháu Trần Thành Nam (Con chung đã thành niên của anh M và chị Ng) và cháu Trần TH Nga (con chung chưa thành niên của anh M và chị Ng) thì cuộc sống hôn nhân của chị Ng và anh M không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài nhiều năm nay do anh M và chị Ng bất đồng quan điểm sống, hai bên thường cãi chửi và xúc phạm nhau, nhiều lần anh M đánh chị Ng. Bản thân anh M đã có thời gian chơi bời, sa ngã tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật và bị đi tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy với mức án 12 tháng tù vào năm 2020. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về thì cuộc sống chung với chị Ng vẫn tiếp tục mâu thuẫn, hai bên đã xẩy ra xô xát, anh M đánh chị Ng thâm tím mặt; từ tháng 6/2022 chị Ng và anh M sống ly thân mỗi người một nơi.
4- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P có quan điểm:
-Về tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, vắng mặt có đơn xin xử án vắng mặt. Bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, vắng mặt không có lý do, nên căn cứ khoản 1 Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
- Về nội dung khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ng được ly hôn anh Trần Thành M.
-Về con chung: Chị Lê Thị Ng và anh Trần Thành M 02 (hai) con chung là Trần Thành Nam (sinh ngày 01/8/2004) và Trần TH Nga (sinh ngày 02/11/2005). Cháu Trần Thành Nam đã trưởng thành và phát triển bình thường.
Giao cho chị Lê Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Trần TH Nga cho đến khi con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), anh M không Pi cấp dưỡng nuôi con chung với chị Ng.
-Về tài sản chung, vay nợ chung: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Lê Thị Ng yêu cầu xin ly hôn với anh Trần Thành M hiện cư trú tại địa bàn thành phố Cẩm P nên Tòa án nhân dân thành phố Cẩm P thụ lý giải quyết với quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Chị Lê Thị Ng vắng mặt có đơn xin xử án vắng mặt, anh Trần Thành M vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Tòa án nhân dân thành phố Cẩm P tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại Khoản 1Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
VÒ nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: hôn nhân giữa chị Lê Thị Ng và anh Trần Thành M trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 10/12/2003 tại Ủy ban nhân dân phường Cẩm Trung, thị xã Cẩm P (nay là thành phố Cẩm P), tỉnh Quảng N - đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Theo lời trình bày của chị Ng cũng như xác nhận của chính quyền địa phương cùng lời khai của con chung đã trưởng thành thì vợ chồng chị Ng và anh M có mâu thuẫn từ năm 2006, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài nhiều năm nay do anh M và chị Ng bất đồng quan điểm sống, hai bên thường xuyên cãi chửi và xúc phạm nhau, hai vợ chồng nhiều lần xẩy ra xô xát đánh nhau. Bản thân anh M đã có thời gian chơi bời, sa ngã tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật và bị đi tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy với mức án 12 tháng tù vào năm 2020. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về thì anh M tiếp tục chung sống với chị Ng nhưng được thời gian thì hai bên lại xẩy ra mâu thuẫn, đánh nhau; lần gần đây nhất là anh M dùng điếu cày đánh chị Ng thâm tím mặt, sau đó chị Ng và anh M sống ly thân mỗi người một nơi từ tháng 6/2022 đến nay.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh M nhiều lần để giải quyết yêu cầu xin ly hôn của chị Ng đối với anh M nhưng anh M đều vắng mặt không có lý do, điều đó cho thấy anh M không có thái độ muốn vợ chồng hàn gắn hay khắc phục mâu thuẫn để đoàn tụ.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ng với anh M là có căn cứ phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
- Về con chung: Chị Lê Thị Ng và anh Trần Thành M 02 (hai) con chung là Trần Thành Nam (sinh ngày 01/8/2004) và Trần TH Nga (sinh ngày 02/11/2005).Con chung Trần Thành Nam đã trưởng thành và phát triển bình thường.
Đối với con chung Trần TH Nga thì do hiện nay cháu Trần TH Nga đang có cuộc sống, học tập ổn định bên chị Nga, hơn nữa chị Ng có quan điểm giao con chung Trần TH Nga cho chị nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Quan điểm này của chị Ng cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Trần TH Nga muốn được ở với mẹ. Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu về việc nuôi con chung của chị Ng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Ng không yêu cầu anh M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-Về tài sản chung: Chị Ng xác định không có tài sản chung, vay nợ chung nên chị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự nguyên đơn chị Lê Thị Ng Pi nộp toàn bộ án phí ly hôn.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
V× c¸c lÏ trªn
QuyÕt ®Þnh
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 271 và Điều 273 - Bộ luật Tố tụng Dân sự. Các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ng.
-Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ng được ly hôn với anh Trần Thành M.
-Về con chung: Chị Lê Thị Ng và anh Trần Thành M 02 (hai) con chung là Trần Thành Nam (sinh ngày 01/8/2004) và Trần TH Nga (sinh ngày 02/11/2005).
Con chung Trần Thành Nam đã trưởng thành và phát triển bình thường.
Giao cho chị Lê Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Trần TH Nga cho đến khi con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), anh M không Pi cấp dưỡng nuôi con chung với chị Ng. Anh Trần Thành M có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
-Về tài sản chung và công nợ chung: không có.
- Về án phí: Chị Lê Thị Ng Pi nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) là tiền tạm ứng án phí chị Ng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm P theo Biên lai thu tiền số 0005194 ngày 29/9/2022.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt các đương sự, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng N; - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Cẩm P; - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Cẩm P; - UBND phường Cẩm Trung, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N. - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn phòng; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Loan |