vanban.org

Bản án 02/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của nguyên đơn bà Mai Thị D đối với bị đơn ông Huỳnh Tân B.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Mai Thị D được ly hôn với ông Huỳnh Tân B. Về con chung: Giao con chung Huỳnh Nhật T, sinh ngày 11/12/ 2017 cho bà Mai Thị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Huỳnh Tân B không cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn Mai Thị D - Huỳnh Tân B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của nguyên đơn bà Mai Thị D đối với bị đơn ông Huỳnh Tân B.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30-01-2024
Về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Ánh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Hồng Hải

Ông Đặng Ngọc Thuý

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Công Hồng Lĩnh– Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Tường Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 329/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 329/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Mai Thị D, sinh năm: 1994; Địa chỉ: 259/1/6 V, T, H, Thừa Thiên H. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Tân B, sinh năm 1990; Địa chỉ: K H64/20 C, tổ H, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/9/2023, bản tự khai đề ngày 10/11/2023 và tại phiên tòa nguyên đơn là bà Mai Thị D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị D và ông Huỳnh Tân B đăng ký kết hôn vào ngày 19/6/2017 tại UBND phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn, thì bà D và ông B chung sống cùng gia đình nhà chồng tại phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. Trong thời gian đầu sống chung thì vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng về kinh tế, ông B không có lập trường, chính kiến để bảo vệ vợ con, nhiều lần bạo lực gia đình với bà D, và không từ bỏ việc đánh bạc mặc dù bà D đã nhiều lần khuyên ngăn, ngoài ra còn có sự mâu thuẫn giữa mẹ chồng và nàng dâu nên hạnh phúc gia đình không trọn vẹn và luôn gặp nhiều căng thẳng.

Bắt đầu từ năm 2020 cho đến nay thì bà D và ông B đã sống ly thân mỗi người một nơi, ông B sống ở Đà Nẵng, còn bà D và con chung đã về Huế sinh sống. Nay bà D xác định tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Huỳnh Tân B.

- Về con chung: Bà Mai Thị D xác định vợ chồng có 01 (một) con chung là: Huỳnh Nhật T, sinh ngày: 11/12/2017. Ly hôn, bà D yêu cầu được nuôi dưỡng con Huỳnh Nhật T và không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Mai Thị D xác định không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Bị đơn là ông Huỳnh Tân B mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để tham gia phiên hoà giải, tham gia phiên toà nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không có ý kiến phản hồi về việc bà Mai Thị D xin ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến tại phiên toà về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật, riêng bị đơn không thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị D đối với bị đơn ông Huỳnh Tân B về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bà Mai Thị D được ly hôn với ông Huỳnh Tân B.

- Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Huỳnh Nhật T, sinh ngày: 11/12/2017 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Bà D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Mai Thị D xác định không có nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Tân B1 cư trú tại địa chỉ tại K C, tổ H, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sựthẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

[2] Về tố tụng: Bị đơn ông Huỳnh Tân B mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, áp dụng khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là ông Huỳnh Tân B.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên toà, bà Mai Thị D cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, bà D không thể tiếp tục chung sống với ông B. Do vậy, yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Tân B1.

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tại phiên tòa thể hiện: Hôn nhân giữa bà Mai Thị D và ông Huỳnh Tân B là hợp pháp. Theo bà D trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông B không có chính kiến và lập trường nên vợ chồng không có tiếng nói chung, bà D và ông B đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 đến nay phù hợp với Biên bản xác minh ngày 27/12/2023 của Toà án tại địa phương ông B sinh sống và Đơn xin xác nhận của bà Mai Thị D tại phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông B đến tham gia phiên hòa giải nhưng ông đều vắng mặt không có lý do, điều đó chứng tỏ ông B bỏ mặt, không muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với bà D nên Hội đồng xét xử có căn cứ định xác định mâu thuẫn vợ chồng như bà D trình bày là có thật.

Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng của bà D và ông B đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nguyện vọng xin được ly hôn của bà Mai Thị D là chính đáng, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về con chung: Bà Mai Thị D và ông Huỳnh Tân B có 01 con chung tên Huỳnh Nhật T, sinh ngày: 11/12/ 2017. Ly hôn, bà D có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử thấy: Cha, mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con sau ly hôn. Song việc giao con cho ai nuôi cần xem xét mọi mặt để không ảnh hưởng đến sự phát triển về tinh thần, thể chất cũng như quyền lợi của con. Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân thì bà D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Huỳnh Nhật T nên việc giao cháu T cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng để không ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất và tinh thần của cháu là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Bà D không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Mai Thị D xác định không có nên Tòa án không đề cập giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Mai Thị D phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; 266; 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 56; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của nguyên đơn bà Mai Thị D đối với bị đơn ông Huỳnh Tân B.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Mai Thị D được ly hôn với ông Huỳnh Tân B.

2. Về con chung: Giao con chung Huỳnh Nhật T, sinh ngày 11/12/ 2017 cho bà Mai Thị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Huỳnh Tân B không cấp dưỡng nuôi con.

Các bên vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu về mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Mai Thị D phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà đã nộp theo biên lai thu số 0002184 ngày 12 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Bà D đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết trích sao bản án.

Cỡ chữ