vanban.org

Bản án 02/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Nguyễn Thị Hồng A đối với ông Phạm Văn Thanh.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng A – Sinh năm 1987 được ly hôn ông Phạm Văn Th – Sinh năm 1985. (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 33/2008 ngày 23.7.2008 của UBND xã Trực Hưng, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định không còn giá trị kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng Anh - Phạm Văn Thanh"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Nguyễn Thị Hồng A đối với ông Phạm Văn Thanh.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ TP- ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16 tháng 01 năm 2023
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thuận

2. Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo– Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 01 năm 2023 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 226/2022/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 226/2022/QĐST

- HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng A - Sinh năm 1987.

Địa chỉ: Số K339/H26/06 Trường Chinh, tổ 20 phường An Kh , quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Phạm Văn Th - Sinh năm 1985.

Địa chỉ: Số K339/H26/06 Trường Chinh, tổ 20 phường An Kh , quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 15.8.2022, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng A trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng A và ông Phạm Văn Th kết hôn vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trực Hưng, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, ông bà về chung sống tại địa chỉ số K339/H26/06 Trường Chinh, tổ 20 phường An Kh , quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.Trong quá trình chung sống với nhau, bà Anh và ông Thanh thường xuyên xảy ra sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, không cùng suy nghĩ, hay cãi vã, áp lực về kinh tế, ông Thanh sử dụng chất kích thích rồi về đánh đập vợ con, khiến không khí gia đình căng thẳng ngột ngạt. Ông bà đã sống ly thân từ cuối tháng 7.2022 đến nay. Nay bà Anh nhận thấy không còn tình cảm với ông Thanh, mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Thanh.

- Về quan hệ con chung: Bà Anh xác nhận, bà và ông Thanh có 02 con chung tên Phạm Minh Q - Sinh ngày 01.5.2009 và Phạm Minh H – Sinh ngày 15.6.2011. Tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa, bà Anh có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung và không yêu cầu ông Thanh cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Hiện nay, con chung đang sống cùng với bà Anh tại địa chỉ số K339/H26/06 Trường Chinh, tổ 20 phường An Kh , quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Về tài sản chung: Bà Anh xác nhận bà và ông Thanh tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Anh xác nhận bà và ông Thanh không nợ ai và không ai nợ vợ chồng bà.

* Bị đơn ông Phạm Văn Thanh: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập lấy lời khai, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Thanh vắng mặt cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Anh nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Thanh.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê:

- Về thủ tục tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, việc giải quyết vụ án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo cho các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Còn bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến trình bày quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không tham gia quá trình tố tụng là không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm đối với việc giải quyết vụ án: Đối với yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung của bà Nguyễn Thị Hồng A đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng 51, 56, 58, 81 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà Anh . Đề nghị HĐXX xử cho bà Anh ly hôn với ông Thanh và giao 02 con tên Phạm Minh Q - Sinh ngày 01.5.2009 và Phạm Minh H – Sinh ngày 15.6.2011 cho bà Anh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi), bà Anh không yêu cầu ông Thanh cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, bị đơn ông Phạm Văn Th có cư trú tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Phạm Văn Th vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Phạm Văn Th theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự .

Về nội dung tranh chấp của vụ án:

Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Hồng A giữ nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng giải quyết cho bà Anh được ly hôn ông Phạm Văn Thanh.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng A và ông Phạm Văn Th xây dựng gia đình vào năm 2008, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu yêu thương nhau. Việc kết hôn giữa bà Anh và ông Thanh là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và không trái với quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà Anh và ông Thanh là hoàn toàn hợp pháp.

Xét thấy trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà Anh xác nhận trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng hay cải vã, ông Thanh đánh đập vợ. Hiện nay, bà Anh và ông Thanh đã sống ly thân được hơn 01 năm. Tại phiên tòa, bà Anh xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Thanh nên mong muốn được ly hôn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, tại các phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Phạm Văn Th đều vắng mặt và cũng không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của bà Anh. Điều này thể hiện ông Thanh không có thiện chí muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Hơn nữa, qua xác minh tại địa phương nơi ông Thanh, bà Anh sinh sống thể hiện ông Thanh có đánh đập bà Anh gây mất trật tự khu dân cư, Công an phường An Kh có đến làm việc. Do đó, Tòa án xác định được những mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Anh và ông Thanh là có thật. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng bà Anh và ông Thanh đã đến mức trầm trọng, đời sống chung thực tế đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Hồng A đối với ông Phạm Văn Th .

Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Hồng A và ông Phạm Văn Th có 02 con chung tên Phạm Minh Q - Sinh ngày 01.5.2009 và Phạm Minh H – Sinh ngày 15.6.2011. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Anh xác nhận con chung đang sống ổn định với bà nên bà có nguyện vọng nuôi dưỡng con đến khi đủ tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông Thanh cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét yêu cầu giao con chung của bà Anh thì thấy: Bà Anh có nguyện vọng nuôi 02 con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Thanh vắng mặt và không có ý kiến gì về việc bà Anh có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con. Ngoài ra, hiện nay con chung của ông Thanh và bà Anh đang được bà Anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ nên xử chấp nhận theo nguyện vọng của bà Anh, giao 02 chung cho bà Anh chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con lần lượt đủ tuổi thành niên. Bà Anh không yêu cầu ông Thanh cấp dưỡng nuôi con và ông Thanh không có ý kiến gì về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Hồng A xác định, bà và ông Thanh tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung không có. Quá trình giải quyết vụ án ông Thanh vắng mặt và không có ý kiến gì đối với vấn đề tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập. Nếu sau này, bà Anh và ông Thanh có tranh chấp về phần tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng A phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên; [ơ

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 235, 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Nguyễn Thị Hồng A đối với ông Phạm Văn Thanh.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng A – Sinh năm 1987 được ly hôn ông Phạm Văn Th – Sinh năm 1985.

ơ

(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 33/2008 ngày 23.7.2008 của UBND xã Trực Hưng, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định không còn giá trị kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật).

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung tên con chung tên Phạm Minh Q - Sinh ngày 01.5.2009 và Phạm Minh H – Sinh ngày 15.6.2011 cho bà Nguyễn Thị Hồng A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi. Ông Phạm Văn Th không cấp dưỡng nuôi con chung.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002960 ngày 05.10.2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Bà Anh đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ