vanban.org

Bản án 02/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Chấp nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa của chị H và anh T: Giao cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi 02 con chung Nguyễn Anh K sinh ngày 25-6-2011 và Nguyễn Phúc T sinh ngày 31-3-2013 cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa chị H và anh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN D
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST
Ngày 24-3-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN D THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Thanh Giản

Bà Tạ Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Bùi Đình Lành - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 52/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H; nơi cư trú: Tổ 01 phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T; nơi cư trú: Tổ 01 phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận D, thành phố Hải Phòng vào ngày 16 tháng 11 năm 2010. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng gia đình anh T ở phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên không hợp nhau, vợ chồng thiếu sự quan tâm chia sẻ, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị và anh T đã sống ly thân. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Anh K sinh ngày 25-6-2011 và Nguyễn Phúc T sinh ngày 31-3-2013. Do hai con đang ở với anh T nên chị đề nghị giao cho T nuôi 02 con chung. Chị sẽ đóng góp cấp dưỡng nuôi hai con cho anh T mỗi tháng 3.000.000đồng/1 tháng.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày về thời gian kết hôn, quá trình chung sống như chị H trình bày; anh cho rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng anh là do vợ chồng không hợp nhau, anh nghi ngờ chị H có mối quan hệ khác. Chị H làm đơn xin ly hôn, anh không đồng ý ly hôn và mong muốn chị H quay về đoàn tụ để cùng nuôi dạy con chung. Về con chung: anh chị có 02 con chung như chị H trình bày, anh có nguyện vọng được nuôi 02 con và 02 con cũng có nguyện vọng được ở với anh. Yêu cầu Tòa án giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành xác minh về mâu thuẫn vợ chồng tại địa phương nơi chị H và anh T sinh sống thể hiện vợ chồng có mâu thuẫn và chị H đã bỏ đi nơi khác sinh sống khoảng từ tháng 10 năm 2022 đến nay.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không tiến hành hòa giải được vì chị H vẫn cương quyết ly hôn còn anh T mong muốn vợ chồng quay về đoàn tụ, tuy nhiên anh không có biện pháp nào để cải thiện tình cảm vợ chồng và chị H quay về cùng nuôi dạy con chung nên anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa anh T có quan điểm đồng ý ly hôn chị H, đồng ý nhận nuôi hai con chung và mức cấp dưỡng nuôi con như đề nghị của chị H. Tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa, giao 02 con chung là Nguyễn Anh K sinh ngày 25-6-2011 và Nguyễn Phúc T sinh ngày 31-3-2013 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị H có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con với anh T 3.000.000 đồng/tháng (mỗi con 1.500.000đồng) cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung chị H và anh T không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn T kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn năm 2010 tại UBND phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; theo quy định tại các điều 9, 11 và điều 103 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân quận D giải quyết việc ly hôn, anh Nguyễn Văn T hiện đang cư trú tại phường H, quận D, thành phố Hải Phòng nên theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng.

Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Chị H và anh T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định Luật hôn nhân và gia đình. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn căng thẳng nên chị H đã bỏ nhà đi nơi khác sinh sống. Quá trình xác minh thu thập chứng cứ qua lời khai của gia đình, chính quyền địa phương xác định: Chị H và anh T xảy ra mâu thuẫn, hiện tại chị H và anh T đã sống ly thân, không còn quan tâm tới nhau. Tại phiên tòa chị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị được ly hôn với anh T, anh T cũng đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình: "1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác". Căn cứ vào quy định của pháp luật và thực tế, đủ cơ sở xác định hai bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị H về việc xin ly hôn anh T là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Anh K sinh ngày 25-6-2011 và Nguyễn Phúc T sinh ngày 31-3-2013. Hiện 02 con chung đang ở với anh T, tại phiên tòa anh T và chị H thỏa thuận giao cho anh T nuôi cà 02 con chung, phù hợp với nguyện vọng của hai con. Hội đồng xét xử thấy, đề nghị của chị H, anh T phù hợp với pháp luật, với thực tế, phù hợp với nguyện vọng và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của con chung, phù hợp quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần được chấp nhận. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, chấp nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa của chị H và anh T: Chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi hai con với anh T 3.000.000 đồng/tháng (mỗi con 1.500.000đồng) kể từ tháng 4 năm 2023 cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Chấp nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa của chị H và anh T: Giao cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi 02 con chung Nguyễn Anh K sinh ngày 25-6-2011 và Nguyễn Phúc T sinh ngày 31-3-2013 cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con với anh T số tiền là 3.000.000 (ba triệu) đồng/1tháng (mỗi con là 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng/1 tháng) kể từ tháng 4 năm 2023 cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Khoản tiền cấp dưỡng nuôi con được thi hành ngay mặc dù có thể bị khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị; kể từ ngày anh T có đơn yêu cầu thi hành án, chị H không thi hành khoản tiền cấp dưỡng nêu trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chưa thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Chị H đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số 0002863 ngày 08-11-2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận D, thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị H còn phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị H, anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ