vanban.org

Bản án 02/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số /2019/TLST-HNGĐ ngày 07/8/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Thời gian, địa điểm mở lại phiên toà xét xử vụ án: Vào hồi 08 giờ 00 phút, ngày 31 tháng 11 năm 2019 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi (địa chỉ: Số 164, đường Phan Bội Châu, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi). VKSND TP Quảng Ngãi; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số /2019/TLST-HNGĐ ngày 07/8/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀ BỒNG
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 04-8-2023
V/v ly hôn, tranh chấp
về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Minh Thuận

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Ngô Thị Bích Hải;

2. Ông Nguyễn Duy Tuấn.

- Th

phi n t a: Ông Hồ Văn Trúc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện iểm sát nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoài Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 434/2023/QĐST- HNGĐ ngày 21/7/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị L, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Thôn Phú L, xã Trà P, huyện Trà B, tỉnh Quảng Ngãi. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Thôn Phú L, xã Trà P, huyện Trà B, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 15/5/2023, bản tự khai ngày 15/6/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lê Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Tấn Đ kết hôn vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Trà P, huyện Trà B, tỉnh Quảng Ngãi.

Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân là do anh Đ không lo làm ăn, rượu chè và thường xuyên đánh đập chị, vợ chồng đã ly thân được 06 năm. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

- Về con chung: Vợ chồng 03 con chung là Nguyễn Tấn B, sinh ngày 12/8/2004 (đã trưởng thành), Nguyễn Lê Bảo C, sinh ngày 27/3/2012 và Nguyễn Lê Bảo N, sinh ngày 27/3/2012, khi ly hôn chị yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc hai con Nguyễn Lê Bảo C và Nguyễn Lê Bảo N.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện ngày 15/5/2023 chị L yêu cầu anh Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Lê Bảo N là 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, sau đó chị L trình bày không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/02/2023, bị đơn anh Nguyễn Tấn Đ trình bày:

- Anh và chị L có đăng ký kết hôn tại UBND xã Trà P, huyện Trà B, tỉnh Quảng Ngãi vào năm 2004. Trong quá trình chung sống anh có đánh đập và xúc phạm chị. Hiện anh và chị L không còn sống chung được hơn 05 năm. Nay chị L yêu cầu ly hôn, anh không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng 03 con chung là Nguyễn Tấn Bảo, sinh ngày 12/8/2004 (đã trưởng thành), Nguyễn Lê Bảo C, sinh ngày 27/3/2012 và Nguyễn Lê Bảo N, sinh ngày 27/3/2012, anh không đồng ý ly hôn nên không trình bày về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục phiên tòa.

Về nội dung: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L; giao hai con Nguyễn Lê Bảo C, sinh ngày 27/3/2012 và Nguyễn Lê Bảo N, sinh ngày 27/3/2012 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Tấn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị L được miễn tiền án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Chị L yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Tấn Đ, bị đơn anh Đ có địa chỉ tại: Thôn Phú L, xã Trà P, huyện Trà B, tỉnh Quảng Ngãi. Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn chị Lê Thị L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Tấn Đ được Tòa án triệu tập hợp L lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L, anh Nguyễn Tấn Đ tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trà P vào ngày 05/4/2004 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị L trình bày nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do anh Đ không lo làm ăn, thiếu trách nhiệm với vợ con, đánh đập, xúc phạm chị, vợ chồng sống ly thân đã sáu năm. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Đ thừa nhận có đánh đập và chửi bới chị L, hiện vợ chồng không còn chung sống được hơn năm năm.

Do đó, Hội đồng xét xử nhận định mâu thuẩn giữa chị L, anh Đ là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L.

Về con chung: Chị L và anh Đ có 03 con chung Nguyễn Tấn B, sinh ngày 12/8/2004 (đã trưởng thành), Nguyễn Lê Bảo C, sinh ngày 27/3/2012 và Nguyễn Lê Bảo N, sinh ngày 27/3/2012, chị L yêu cầu được nuôi hai con Nguyễn Lê Bảo C và Nguyễn Lê Bảo N, nguyện vọng của các cháu cũng mong muốn được ở với mẹ, từ khi vợ chồng anh Đ, chị L không sống chung đã hơn năm năm các con Nguyễn Lê Bảo C, Nguyễn Lê Bảo N vẫn ở với mẹ. Căn cứ vào các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L về việc nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện ngày 15/5/2023 chị L yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Lê Bảo N số tiền 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Ngày 19/6/2023 chị L yêu cầu được nuôi dưỡng hai con C, N và không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận.

Chị L là hộ cận nghèo và có đơn đề nghị được miễn tiền tạm ứng án phí, án phí nên được miễn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 5, 35, 39, 147, 150, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên xử:

1. Chị Lê Thị L được ly hôn anh Nguyễn Tấn Đ.

2. Giao các con Nguyễn Lê Bảo N, sinh ngày 27/3/2012, Nguyễn Lê Bảo C, sinh ngày 27/3/2012 cho chị L tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Tấn Đ không cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Tấn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

4. Về án phí: Chị Lê Thị L được miễn tiền án phí.

5. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Ngãi;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Trà Bồng;

- Chi cục THADS huyện Trà Bồng;

- UBND xã Trà P;

- Đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Trƣơng Thị Minh Thuận

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NGÃI

BIÊN BẢN THẢO LUẬN

Vào hồi 10 giờ 20 phút, ngày 18 tháng 11 năm 2019.

Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Ánh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tấn;

Bà Nguyễn Thị Khánh Phượng.

Tiến hành thảo luận vụ án dân sự thụ lý số 389/2019/TLST-HNGĐ ngày 30/9/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa:

- Nguyên đơn: Bà Thạch Nguyễn Thị Hồng Linh;

- Bị đơn: Ông Vũ Ngọc Nhân;

Xét thấy: Tòa án triệu tập hợp L lần thứ nhất nhưng bị đơn (ông Vũ Ngọc Nhân) vắng mặt tại phiên tòa;

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:

1. Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 389/2019/TLST-HNGĐ ngày 30/9/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

2. Thời gian, địa điểm mở lại phiên toà xét xử vụ án được ấn định như sau: Phiên toà dân sự sơ thẩm sẽ được mở lại vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 27 tháng 11 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi (địa chỉ: Số 164, đường Phan Bội Châu, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi).

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

Việc thảo luận kết thúc vào hồi 10 giờ 50 phút cùng ngày.

Biên bản thảo luận đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NGÃI

Số: /2019/QĐST-HNGĐ

TP. Quảng Ngãi, ngày tháng 11 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

HOÃN PHIÊN TOÀ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Hồng Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Thành Tính;

Ông Nguyễn Phùng Xuân Thu.

Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Trúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Dương – Kiểm sát viên.

Đã tiến hành mở phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án dân sự thụ lý số /2019/TLST-HNGĐ ngày 07/8/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18/10/2019;

Xét thấy: Tòa án triệu tập hợp L lần thứ nhất nhưng bị đơn (ông Đ Tấn Long) vắng mặt tại phiên tòa;

Căn cứ vào các Điều 227, 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số /2019/TLST-HNGĐ ngày 07/8/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

2. Thời gian, địa điểm mở lại phiên toà xét xử vụ án: Vào hồi 08 giờ 00 phút, ngày 31 tháng 11 năm 2019 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi (địa chỉ: Số 164, đường Phan Bội Châu, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi).

Cỡ chữ