- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huế-Thanh"
- Tòa quyết gì? {1} Về tình cảm: Cho Nguyễn Thị H được li hôn với anh Trịnh Văn T.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HNGĐ- ST Ngày 13-01-2023 (V/v tranh chấp ly hôn, quyền nuôi con chung) |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Loan Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đức Dũng; ông Lê Quang Hòa
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thùy Dung- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên toà: bà Hồ Thị Hậu- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 245/2022/TLST- HNGĐ ngày 15/11/2022 về việc “Kiện xin li hôn, quyền nuôi con chung ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2022/QĐXX-ST ngày 07 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990
Địa chỉ: xóm x, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: anh Trịnh Văn T, sinh năm 1992
Địa chỉ: xóm x, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Hiện đang chấp hành Quyết định xử lí hành chính "Đưa vào cơ sở cai nghiện " đóng tại xã Hưng Lộc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin li hôn đề ngày 10/11/2022 và các lời khai, biên bản hòa giải, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Ngày 25 tháng 12 năm 2017, chị và anh Trịnh Văn T đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.Tuy nhiên, sau khi cưới thì vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn vì không có quan điểm chung trong cuộc sống, không quan tâm đến nhau. Cả hai bên vợ chồng đã tìm cách tự hóa giải nhưng vẫn không thành; cuộc sống luôn căng thẳng, không thể hàn gắn được. Hiện tại, anh T nghiện ma túy nên phải đi chấp hành Quyết định cai nghiện bắt buộc tập trung tại trung tâm cai nghiện. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin li hôn với anh T.
Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là các cháu Trịnh Thùy A; sinh ngày 12 tháng 4 năm 2016 và cháu Trịnh Tùng K; sinh ngày 26 tháng 3 năm 2018. Hiện các cháu đang ở cùng chị. Chị H có nguyện vọng xin được tiếp tục nuôi con và chưa yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ và vay nợ: không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: chị xin chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị đơn là anh Trịnh Văn T cũng trình bày trong lời khai, xác nhận nội dung như chị đã trình bày; Anh đồng ý li hôn vì xét cũng không còn tình cảm với chị; Về con cái, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của con và đặc biệt hiện nay anh đang chấp hành cai nghiện nên chưa có điều kiện đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành và người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước lúc nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Việc thụ lý đúng thẩm quyền; xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng; chuyển hồ sơ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát, thời hạn giải quyết tuân thủ quy định của pháp luật. Việc xét xử vắng mặt đương sự đúng quy định.
Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56; 81, 82 và Điều 83 luật Hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị H được li hôn anh Trịnh Văn T; Xem xét các tình tiết thu thập được trong vụ án, đề nghị giao con chung của vợ chồng cho mẹ của các cháu trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật và nguyện vọng của cả hai bên; chưa xem xét đến cấp dưỡng nuôi con vì nguyên đơn chưa yêu cầu. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết án phí theo quy định chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
{1} Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập lời khai các đương sự, họp phiên công khai chứng cứ, tiến hành hòa giải hợp lệ; việc các đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn xin vắng mặt; Bị đơn đồng ý li hôn và vắng mặt do đang chấp hành án nên Tòa án mở phiên tòa để xét xử theo quy định.
{2} Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Xét ngày 25/12/2017, chị Nguyễn Thị H và anh Trịnh Văn T đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn và không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại điều 8, điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy quan hệ hôn nhân đó là hợp pháp.
- Về tình cảm: Hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ lâu, bản thân anh T đang đi cai nghiện. Xét mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng; mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp thuận ý kiến của chị H, cho chị được li hôn với anh Trịnh Văn T.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trịnh Thùy A; sinh ngày 12 tháng 4 năm 2016 và cháu Trịnh Tùng K; sinh ngày 26 tháng 3 năm 2018. Các cháu hiện đang do chị chăm sóc, nuôi dương nên chị H có nguyện vọng xin được tiếp tục nuôi con và chưa yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con; Xét các tình tiết thu thập được và hoàn cảnh sống của các bên, Hội đồng xét xử thấy nên giao con chung của vợ chồng cho mẹ của cháu trực tiếp nuôi dưỡng là đúng quy định của pháp luật; đảm bảo lợi ích về mọi mặt; thuận lợi cho sự phát triển tâm sinh lí của các cháu. Bản thân chị chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
{2.3} Về tài sản chung, nợ và cho vay nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
{2.4} Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí li hôn sơ thẩm;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56; 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 bộ luật Tố tụng Dân sự; Xử:
{1} Về tình cảm: Cho Nguyễn Thị H được li hôn với anh Trịnh Văn T.
{2} Về con chung: Giao hai con chung của vợ chồng là cháu Trịnh Thùy A; sinh ngày 12 tháng 4 năm 2016 và cháu Trịnh Tùng K; sinh ngày 26 tháng 3 năm 2018 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi li hôn. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Trịnh Văn T.
Anh Trịnh Văn T có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Nếu anh T lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung thì chị Huế có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của anh Trịnh Văn T.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án và tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
{3} Về tài sản chung: Không
{4} Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đồng án phí li hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã đóng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nghi Lộc theo biên lai số 0005479 ngày 11/11/2022; chị Nguyễn Thị H đã nạp đủ án phí.
{5} Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự - VKSND huyện Nggghi Lộc - Chi cục THA dân sự h. Nghi Lộc - TAND tỉnh Nghệ An - UBND xã N.h N. NA - Lưu Hồ sơ | Tm/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Loan Hòa |