vanban.org

Bản án 02/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị N được ly hôn với anh Trần Văn B.

Về con chung: Giao 02 con chung là Trần Nhật Th, sinh ngày 29/10/2009 và Trần An A, sinh ngày 05/3/2018 cho chị Phạm Thị N trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Tạm thời anh Trần Văn B không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị N chưa yêu cầu. Anh Trần Văn B được quyền thăm nom con chu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị N được ly hôn với anh Trần Văn B.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỊNH QUÁN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31- 01- 2023
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Thái

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Đông và bà Nguyễn Thị Hương Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thắm, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 385/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1984.

HKTT: Ấp T, xã L, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn B, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Ấp X, xã G, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

(Chị N và anh B đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 14/10/2022, bản trình bày ý kiến, biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh B tự nguyện kết hôn năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị xã T, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/8/2007. Quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, tính tình không hợp, bất đồng quan điểm và thường xuyên cãi nhau. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với anh B nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh B.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên là Trần Nhật Th, sinh ngày 29/10/2009 và Trần An A, sinh ngày 05/3/2018. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Trần Văn B:

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh B đều vắng mặt không có lý do, cũng không nộp văn bản nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị N.

- Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Việc tuân theo quy định pháp luật của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật, thời hiệu khởi kiện, tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử, tống đạt văn bản tố tụng, giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu: Tòa án xác định đúng theo quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng chị N và anh B đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, khả năng đoàn tụ không có nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đường. Đề nghị cho chị Phạm Thị N được ly hôn với anh Trần Văn B.

Về con chung: Con chung đang sống cùng mẹ và được chị N chăm sóc tốt, các cháu được đi học và phát triển B thường, cháu Thiện có nguyện vọng được ở cùng mẹ, nên đề nghị giao 02 con cho chị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn nên tạm thời anh B không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Chị N và anh B được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung được đảm bảo thực hiện theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Phạm Thị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Văn B đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

Về thẩm quyền: Bị đơn anh Trần Văn B cư trú tại ấp X, xã G, huyện Định Quán, Đồng Nai, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của của Tòa án nhân dân huyện Định Quán theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Chị Phạm Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn, yêu cầu giải quyết việc nuôi con nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về luật áp dụng: Chị Phạm Thị N và anh Trần Văn B đăng ký kết hôn năm 2007 nên áp dụng luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh B tự nguyện kết hôn, hôn nhân không vi phạm điều cấm của pháp luật, đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị xã Trảng Bàng và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 116 ngày 20/8/2007 nên được công nhận hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị N: Qua xem xét lời trình bày của chị N, chứng cứ Tòa án thu thập được có đủ căn cứ xác định vợ chồng chị N và anh B thật sự đã có mâu thuẫn, vợ chồng không còn yêu thương quan tâm chăm sóc nhau, hiện tại anh chị không còn sống chung với nhau. Như vậy, cuộc sống vợ chồng của chị N, anh B không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, cuộc sống vợ chồng chị N, anh B đã có mâu thuẫn trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N, giải quyết cho chị N được ly hôn với anh B theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị N và anh B có 02 con chung tên là Trần Nhật Th, sinh ngày 29/10/2009 và Trần An A, sinh ngày 05/3/2018. Các con chung đang sống cùng mẹ và được chị N chăm sóc tốt, cháu Th có nguyện vọng được ở với mẹ; anh B không đến Tòa án làm việc để trình bày ý kiến về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con, không cung cấp tài liệu chứng cứ về điều kiện, khả năng nuôi dưỡng con chung. Do đó giao 02 con cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn nên tạm thời anh B không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Anh B được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Chị N, anh B được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.

Xét quan điểm và đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000đ tiền án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 54, 56, 57, 58, 68, 69, 71, 72, 82, 84 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị N được ly hôn với anh Trần Văn B.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là Trần Nhật Th, sinh ngày 29/10/2009 và Trần An A, sinh ngày 05/3/2018 cho chị Phạm Thị N trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn.

Tạm thời anh Trần Văn B không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị N chưa yêu cầu. Anh Trần Văn B được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Chị Phạm Thị N và anh Trần Văn B được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Số tiền 300.000đ tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai số 0003849 ngày 02/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán được chuyển thành tiền án phí. Chị Phạm Thị N đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị N và anh Trần Văn B được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ