vanban.org

Bản án 02/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Phi L , cho anh Nguyễn Phi L được ly hôn chị Xa Bảo Đ.

Về án phí: Anh Nguyễn Phi L phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0003690 ngày 23/11/2022 của Chi cục THADS huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình. Anh L đã nộp đủ án phí. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án Nguyễn Phi L - Xa Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Phi L , cho anh Nguyễn Phi L được ly hôn chị Xa Bảo Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÀ BẮC
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 24/03/2023
(V/v yêu cầu ly hôn)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HOÀ BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lự.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Kiều Oanh

Bà Phạm Thị Dần.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Thanh Tùng

- Đại diện VKSND huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đà Bắc,tỉnh Hòa Bình, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án về tranh chấp Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 70/2022/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 11 năm 2022, về việc yêu cầu ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 02/QĐST- HNGĐ ngày 27/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình giữa:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Phi L - sinh năm 1987.

Địa chỉ: Số nhà 7xx, Tổ x, Phường TN, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Có mặt

2. Bị đơn: Chị Xa Bảo Đ - sinh năm 1986.

Địa chỉ: Xóm Tr, xã TL, huyện Đ, tỉnh Hoà Bình. Vắng mặt lần hai, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Anh Nguyễn Phi L và chị Xa Bảo Đ được tìm hiểu nhau tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 01/03/2011 tại Ủy ban nhân dân Phường C, TP H nay là Phường D, TP H, tỉnh Hòa Bình. Sau khi đăng ký kết hôn hai bên gia đình có tổ chức cưới chị Xa Bảo Đ về làm dâu nhà anh L tại Phường D, TP H được khoảng một năm thì ra ở riêng. Quá trình chung sống với nhau được mấy năm đầu là hạnh phúc sau đó Xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hợp thường xuyên cãi vã nhau . Đến khoảng đầu năm 2018 chị Đ bỏ về nhà mẹ đẻ ở xóm Tr, xã TL, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình, từ thời gian đó đến nay anh, chị không quan tâm gì đến nhau. Anh L thấy tình cảm không còn anh làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn chị Đ.

-Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: Không có.

Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án,Tòa án thông báo thụ lý, triệu tập hợp lệ và thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đối với chị Xa Bảo Đ nhiều lần nhưng chị Đ cố tình không hợp tác và không có mặt ở Tòa án để giải quyết việc ly hôn,Tòa án đã xác minh chị Đ vẫn có mặt ở tại xóm Tr, xã TL, huyện Đ.

Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các tài liệu,văn bản theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xác minh tại gia đình chị Đ, UBND xã TL cũng như tại UBND xã TN, TP H và tống đạt hợp lệ các giấy triệu tập,Quyết định đưa vụ án ra xét xử,Quyết định hoãn phiên tòa và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng chị Xa Bảo Đ cố tình không chấp hành và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Tại phiên tòa anh Nguyễn Phi L vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu ly hôn chị Xa bảo Đ.

*Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc.

-Về tố tụng:Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định và thời hạn, nội dung thẩm quyền của Bộ luật tố tụng dân sự.

Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình như chấp hành nội quy phiên tòa. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên HĐXX xử vắng mặt chị Xa Bảo Đ là đúng quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. -Về nội dung: Từ những tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, thấy rằng hôn nhân giữa anh Nguyễn Phi L và chị Xa Bảo Đ trước khi đăng ký kết hôn được tìm hiểu nhau tự nguyện không ai ép buộc, do đó quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi đăng ký kết hôn anh chị chung sống với nhau mấy năm đầu hạnh phúc sau đó mâu thuẫn và không thể sống chung với nhau bởi tính tình không hợp thường xuyên xảy ra cãi vã nhau và không có con anh chị sống ly thân nhau từ năm 2018 cho đến nay. Trong quá trình Tòa án giải quyết chị Đ không thể hiện quan điểm của mình về vẫn đề ly hôn điều đó chứng tỏ chị có ý định không muốn kéo dài cuộc hôn nhân với anh L, do vậy tình cảm của anh chị không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đính sống chung không có, cuộc hôn nhân không đạt được do đó đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Phi L với chị Xa Bảo Đ. -Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: không có, không đề cập giải quyết. -Về án phí: Căn cứ Điều 147 BLTTDS 2015; điều 27 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án, nguyên đơn anh Nguyễn Phi L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Đề nghị HĐXX tuyên quyền kháng cáo của các đương sự

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh luận tại phiên tòa ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Anh Nguyễn Phi L có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc giải quyết việc hôn nhân giữa anh và chị Xa Bảo Đ,chị Đ có hộ khẩu thường trú tại xóm Tr, xã TL, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Do đó căn cứ tại khoản 1 điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “ Tranh chấp ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.

Tòa án triệu tập và thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ nhưng chị Xa Bảo Đ vắng mặt tại Tòa án, nên không thể tiến hành hòa giải được tại Tòa án. Tòa án đã niêm yết các tài liệu giấy tờ theo quy định của pháp luật như bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do HĐXX căn cứ vào các Điều 227,228 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Chị Xa Bảo Đ không thực hiện nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70,72 của Bộ luật tố tụng dân sự nên phải chịu hậu quả của việc không giao nộp chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình được quy định tại các Điều 91,96 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Phi L và chị Xa Bảo Đ tự nguyện tìm hiểu nhau không có sự ép buộc và có đăng ký kết hôn tại UBND Phường C nay là Phường D, TP H, tỉnh Hòa Bình,từ năm 2011 và có tổ chức cưới hỏi có sự chứng kiến của hai bên gia đình họ hàng nội ngoại, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ,Sau khi cưới chị Đ về làm dâu nhà anh L được khoảng một năm thì anh chị ra ở riêng. Quá trình chung sống với nhau chỉ được mấy năm đầu là hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân chính là không có con và tính tình không hợp thường xuyên cãi vã chửi mắng nhau. Đến đầu năm 2018 chị Đ bỏ về nhà mẹ đẻ ở xóm Tr, xã T, huyện Đ,tinh Hòa Bình sống từ thời gian đó cho đến nay vợ chồng sống ly thân không quan tâm gì đến nhau, anh L thấy tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn đề nghị xin ly hôn chị Đ.Trong suốt quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã xác minh tại địa phương cũng như tại phiên tòa chị Đ không hợp tác cố tình trốn tránh, không thể hiện quan điểm của mình mặc dù Tòa án đã tống đạt các giấy triệu tập cũng như các văn bản theo quy định của BLTTDS nhưng chị Đ cố tình vắng mặt mà không có lý do thể hiện chị Đ không có thiện chí trở thành vợ chồng với anh Nguyễn Phi L.

Qua xác minh gia đình và chính quyền địa phương đều khẳng định anh Nguyễn Phi L và chị Xa Bảo Đ có đăng ký kết hôn ngày 01/03/2011 tại Phường C, TP H nay là Phường D, TP H, tỉnh Hòa Bình,sau khi đăng ký kết hôn anh L và chị Đ có tổ chức cưới có hai bên gia đình họ hàng nội ngoại chứng kiến anh chị chung sống với nhau chỉ được mấy năm đầu là hạnh phúc sau đó xảy ra mâu thuẫn vợ chồng liên tục cãi vã nhau năm 2018 chị Đ bỏ về nhà mẹ đẻ ở tại xóm Tr, xã TL và sống ly thân nhau ngay từ đó đến nay không quan tâm gì đến nhau.

Hội đồng xét xử nhận thấy cả hai anh chị sống ly thân nhau trong thời gian dài và không quan tâm gì đến nhau, vi phạm quyền nghĩa vụ của vợ chồng tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Phi L đối với chị Xa Bảo Đ là phù hợp với quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: Không có.

Về án phí: Anh Nguyễn Phi L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo : Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 BLTTDS.

Căn cứ các Điều 51, 56, Luật Hôn nhân & gia đình.

Căn cứ Điều 147 BLTTDS, Điều 27 của Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1.Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Phi L , cho anh Nguyễn Phi L được ly hôn chị Xa Bảo Đ.

2.Về án phí: Anh Nguyễn Phi L phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0003690 ngày 23/11/2022 của Chi cục THADS huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình. Anh L đã nộp đủ án phí.

3.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ