- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH GIA LAI Bản án số: 02/2023/HNGĐ - ST Ngày: 28/02/2023 “V/v Tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Văn Nguyên;
2. Bà Hoàng Thị Bình.
- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Sáng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 87/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2022 về việc“Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ch, sinh năm 1976
Địa chỉ: Thôn .., xã H, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Có mặt
-Bị đơn: Ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1975
Địa chỉ: Thôn ..., xã H, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 01/7/2022, bản tự khai, tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Phạm Thị Ch trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Huỳnh Văn C tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 20/7/1996 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Trong cuộc sống chung thỉnh thoảng vợ chồng có xảy ra mẫu nguyên nhân là do ông C uống rượu rồi về nhà ghen tuông, vì con cái sau đó vợ chồng tự bỏ qua cho nhau chung sống bình thường. Từ năm 2017 đến nay thì mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra, nguyên nhân do ông C thường xuyên đi uống rượu, rồi về nhà ghen tuông, chửi bới và đánh bà nhiều lần. Năm 2019 bà có làm đơn xin ly hôn ra tòa, sau đó vì con cái nên bà rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ. Nhưng khi về đoàn tụ ông C vẫn không thay đổi. Đến đầu năm 2020 ông C lại ghen tuông rồi đánh và đuổi bà ra khỏi nhà, từ đó bà ra ngoài thuê nhà ở cho đến nay. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên bà Ch đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Huỳnh Văn C.
Về con chung: Bà và ông Huỳnh Văn C có 03 con chung là Huỳnh Thị Mỹ L, sinh ngày 02/11/1996, Huỳnh Văn L1, sinh ngày 03/12/2000 và Huỳnh Khánh Th, sinh ngày 25/4/2018.
Hiện 02 con Huỳnh Thị M L và Huỳnh Văn L1 đã thành niên, có khả năng lao động nên bà không yêu cầu giải quyết. Đối với cháu Huỳnh Khánh Th, ly hôn, bà có nguyện vọng được nuôi trực tiếp con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Ch không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Ch không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, bà Ch không có yêu cầu gì thêm.
Đối với bị đơn là ông Huỳnh Văn C: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hoà giải, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về việc nêu ý kiến đối với phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông C không đến Toà án để làm việc, không cung cấp cho Toà án văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bà Phạm Thị Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Huỳnh Văn C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tống tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Ch và ông Huỳnh Văn C tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 08 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai cấp ngày 20/7/1996. Nên hôn nhân giữa bà Ch và ông C là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.
Bà Phạm Thị Ch khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Huỳnh Văn C, vì bà cho rằng bà và ông C sống không hạnh phúc, ông C thường uống rượu rồi ghen tuông đánh chửi bà nhiều lần. Từ đầu năm 2020 đến nay, vợ chồng không còn chung sống hay quan tâm gì đến nhau. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng và quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ, nhưng ông C không lên Tòa án làm việc và không có ý kiến gửi cho Tòa án cho thấy ông C đã từ bỏ quyền lợi của mình, không muốn hàn gắn tình cảm với bà Ch và chính quyền địa phương cũng xác nhận từ năm 2019 cho đến nay bà với ông C sống ly thân.Từ những cơ sở đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa bà Ch và ông C đã thật sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà Ch là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh.
Về con chung: Bà Phạm Thị Ch và ông Huỳnh Văn C có 03 con chung là Huỳnh Thị Mỹ L, sinh ngày 02/11/1996, Huỳnh Văn L1, sinh ngày 03/12/2000 và Huỳnh Khánh Th, sinh ngày 25/4/2018.
Hiện 02 con Huỳnh Thị Mỹ L và Huỳnh Văn L1 đã thành niên, có khả năng lao động nên bà Ch không yêu cầu giải quyết. Đối với cháu Huỳnh Khánh Th, ly hôn, bà Ch có nguyện vọng được nuôi trực tiếp con chung.
Xét yêu cầu của bà Ch thấy rằng: Kể từ khi vợ chồng sống ly thân, bà Ch là người trực tiếp nuôi dạy con chung, bà Ch vẫn đảm bảo cho sự phát triển bình thường về mọi mặt của con. Do đó, căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy bà Ch có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, nên chấp nhận yêu cầu của bà Ch.
Về cấp dưỡng tiền nuôi con: Bà Ch không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng tiền nuôi con, nên không xem xét.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung khác: Bà Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bà Phạm Thị Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Ch được ly hôn với ông Huỳnh Văn C.
- Về con chung: Giao cháu Huỳnh Khánh Th, sinh ngày 25/4/2018 cho bà Ch trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên có khả năng lao động hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông C không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho bà Ch.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Buộc bà Phạm Thị Ch phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà Ch đã nộp tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu án phí, lệ phí Tòa án số: 0007211 ngày 06 tháng 7 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.
| Nơi nhận : -TAND tỉnh Gia Lai; -VKSND h. Chư Păh; -THADS h. Chư Păh; -UBND xã H; -Đương sự; -Lưu HSVA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hòa |