- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST Ngày: 04/01/2023 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thanh Nhàn;
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Huệ.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Lê Hồng Duyên, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hiền, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 751/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 553/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1983; địa chỉ: số 334/17, khóm B, phường K, thành phố L, tỉnh An Giang (Có mặt);
2. Bị đơn: Ông Võ Văn K, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai và các biên bản hòa giải nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy L trình bày: Vợ chồng bà tự tìm hiểu đi đến kết hôn năm 2016, không tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau, trong cuộc sống chồng không quan tâm chăm sóc vợ con, thường xuyên cờ bạc nên mâu thuẫn không thể hàn gắn được và không còn sống chung từ tháng 8/2022 cho đến nay. Nay thấy tình cảm không còn bà yêu cầu ly hôn với ông Võ Văn K; Về quan hệ con chung: Có 01 con chung Võ Đức T, sinh ngày 18/4/2018. Hiện con chung đang sống với bà L, sau khi ly hôn bà yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ T sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về quan hệ nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thùy L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn ông Võ Văn K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên h p kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông K vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thùy L đối với ông Võ Văn K.
- Bà Nguyễn Thị Thùy L được nuôi dưỡng con chung tên Võ Đức T, sinh ngày 18/4/2018, ông Võ Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về T sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các T liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Bà Nguyễn Thị Thùy L yêu cầu ly hôn với ông Võ Văn K, ông K có nơi cư trú ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn ông Võ Văn K được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông K là có căn cứ.
Bà Nguyễn Thị Thùy L yêu cầu ly hôn với ông Võ Văn K. Bà L và ông K có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo bà L trình bày, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau, trong cuộc sống chồng không quan tâm chăm sóc vợ con, thường xuyên cờ bạc nên mâu thuẫn không thể hàn gắn được và không còn sống chung từ tháng 8/2022 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc bà L yêu cầu ly hôn và triệu tập ông K tham gia các phiên h p về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa, nhưng ông K vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà L. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa bà L và ông K đã diễn ra trong thời gian dài, hai bên c ng không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đ ch hôn nhân không đạt được, nếu chung sống với nhau c ng không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L là phù hợp.
Về quan hệ con chung: Bà L xác định trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Võ Đức T, sinh ngày 18/4/2018. Hiện con chung đang sống với bà L. Khi ly hôn bà L yêu cầu tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau, con chung do bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên tâm tư tình cảm của cháu gắn liền với người nuôi dưỡng và trong quá trình giải quyết ông K c ng không có ý kiến phản đối yêu cầu này của bà L. Do đó, để bà L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là phù hợp với pháp luật.
Đối với cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà L không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về quan hệ T sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về quan hệ nợ chung: Bà L trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Án ph hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án ph theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy L đối với ông Võ Văn K.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy L được ly hôn với ông Võ Văn K.
Giấy chứng nhận kết hôn số 87, ngày 01 tháng 8 năm 2018 do Ủy ban nhân dân xã Hòa Bình, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Thùy L và ông Võ Văn K không còn giá trị pháp lý.
- Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Thùy L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Võ Đức T, sinh ngày 18/4/2018. Ông Võ Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Nguyễn Thị Thùy L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Võ Văn K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ch của con, theo yêu cầu của người thân th ch của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về quan hệ T sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc bà Nguyễn Thị Thùy L xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì bà Nguyễn Thị Thùy L và ông Võ Văn K phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Nguyễn Thị Thùy L phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án ph đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0012584 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 12 tháng 10 năm 2022. Bà Nguyễn Thị Thùy L đã nộp đủ án ph .
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo t nh từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND H. Chợ Mới; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS H. Chợ Mới; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Thư |