- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hầu Thị Th - Mã Viết Th"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hầu Thị Th, cho chị Hầu Thị Th được ly hôn anh Mã Viết Th.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST Ngày 13-01-2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Duyện
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hứa Văn Trung
2. Bà Tô Thị Lợi.
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Đình Sắc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Quốc Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 57/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/12/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23/12/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hầu Thị Th; sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Mã Viết Th; sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ x, khối y, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 26/9/2022, bản tự khai ngày 16/11/2022 nguyên đơn chị Hầu Thị Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Mã Viết Th kết hôn năm 2010 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, chị và anh Mã Viết Th đăng ký kết hôn ngày 17/12/2010 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm 2020 thì anh Mã Viết Th thường xuyên rượu chè, cờ bạc, đánh chửi vợ con nên hai vợ chồng đã sống ly thân từ thời điểm đó cho tới nay. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Mã Viết Th chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Mã Viết Th. Về con chung: Chị và anh Mã Viết Th có 02 con chung là Mã Tuấn T, sinh ngày 16/10/2011 và Mã Yến Nh, sinh ngày 15/8/2015. Hiện nay 02 con chung đều đang ở cùng anh Mã Viết Th. Khi ly hôn chị yêu cầu anh Mã Viết Th sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Về tiền cấp dưỡng nuôi con chị sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng/01 con, 02 con là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) trên một tháng, cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung và cho vay chung: Không có.
Bị đơn anh Mã Viết Th vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên tại Biên bản lấy khai ngày 09/01/2023 anh Mã Viết Th trình bày: Bản thân anh đã nhận được các thông báo và giấy triệu tập Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, do anh không đồng ý ly hôn với chị Hầu Thị Th nên anh đã không đến Tòa án theo các thông báo và giấy triệu tập của Tòa án gửi cho anh. Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Hầu Thị Th kết hôn năm 2010 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 17/12/2010. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm 2017 thì hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và chị Hầu Thị Th đã bỏ về quê ngoại ở Tuyên Quang sinh sống, anh và chị Hầu Thị Th chính thức sống ly thân từ năm 2017 cho tới nay. Chị Hầu Thị Th xin ly hôn với anh, anh không đồng ý. Về con chung: Anh và chị Hầu Thị Th có 02 con chung là Mã Tuấn T, sinh ngày 16/10/2011 và Mã Yến Nh, sinh ngày 15/8/2015. Hiện nay cả 02 con chung đều đang ở cùng anh, cháu Mã Tuấn T học tại trường Trung học cơ sở thị trấn Cao Lộc, còn cháu Mã Yến Nh đang học tại trường Tiểu học thị trấn Cao Lộc. Nếu chị Hầu Thị Th kiên quyết ly hôn thì anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, vì các con đã sống với anh từ nhỏ cho đến nay. Về mức cấp dưỡng cho các con: Anh không có ý kiến gì, nếu chị Hầu Thị Th tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là tự chị Hầu Thị Th quyết định. Về tài sản chung, nợ chung và cho vay chung: Không có.
Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại công văn số 1309/UBND ngày 25/11/2022 của Ủy ban nhân dân thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn cho biết: Việc mâu thuẫn của gia đình anh Mã Viết Th và chị Hầu Thị Th, khối phố không biết, Hội phụ nữ, các đoàn thể và Ủy ban nhân dân thị trấn không nhận được tin báo nên không tổ chức hòa giải hoặc lập biên bản giải quyết. Tại địa chỉ nhà riêng tại Tổ x, khối y, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn chỉ còn anh Mã Viết Th và 02 con là Mã Tuấn T, Mã Yến Nh sinh sống, còn chị Hầu Thị Th thì đã chuyển đi nơi khác. Chị Hầu Thị Th và anh Mã Viết Th làm công việc tự do và không sở hữu tài sản gì chung. Thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn thị trấn Cao Lộc dự kiến là 49.000.000đ/năm.
Ý kiến của con chung chưa thành niên cháu Mã Tuấn T và cháu Mã Yến Nh trình bày tại Bản tự khai: Hiện nay các cháu đang ở cùng bố là anh Mã Viết Th, nếu bố mẹ ly hôn cháu Mã Tuấn T có nguyện vọng được ở cùng bố là anh Mã Viết Th, cháu Mã Yến Nh có nguyện vọng được ở cùng mẹ là chị Hầu Thị Th.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Về thẩm quyền thụ lý vụ án; xác định mối quan hệ tranh chấp; xác định tư cách của những người tham gia tố tụng; việc giao nộp chứng cứ; việc thu thập chứng cứ lấy lời khai của đương sự; việc tống đạt các văn bản tố tụng; việc thông báo, thành phần, trình tự về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thời hạn chuẩn bị xét xử; thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu và gửi các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát được thực hiện đúng theo các Điều 28, 35, 68, 96, 97, 175, 177, 203, 205, 208, 209, 210, 211, 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc tuân theo pháp luật Tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định về việc viết bản tự khai và cung cấp tài liệu, chứng cứ theo quy định; bị đơn chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố Tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hầu Thị Th, cho chị Hầu Thị Th ly hôn với anh Mã Viết Th. Về con chung: Chị Hầu Thị Th và anh Mã Viết Th có 02 con chung là Mã Tuấn T, sinh ngày 16/10/2011 và Mã Yến Nh, sinh ngày 15/8/2015. Hiện cả 02 con chung đều đang ở với anh Mã Viết Th. Khi ly hôn chị Hầu Thị Th đề nghị anh Mã Viết Th sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Chị Hầu Thị Th sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/tháng/01 con, 02 con là 2.000.000 đồng/01 tháng, cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Mã Tuấn T và Mã Yến Nh cho anh Mã Viết Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chị Hầu Thị Th có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000đ/tháng cho 01 con, 02 con là 2.000.000 đồng/01 tháng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, thời điểm cấp dưỡng tính ngày tuyên án, chị Hầu Thị Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung, nợ chung và cho vay chung: Không có. Về án phí: Chị Hầu Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn chị Hầu Thị Th có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn anh Mã Viết Th Toà án đã thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn, như: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ... Tòa án đã triệu tập bị đơn anh Mã Viết Th hợp lệ lần thứ nhất để đưa ra xét xử nhưng anh Mã Viết Th vắng mặt không có lý do, nên phải hoãn phiên tòa ngày 23/12/2022. Tại phiên tòa hôm nay, anh Mã Viết Th đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Hầu Thị Th và bị đơn anh Mã Viết Th.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngày 28/9/2022 chị Hầu Thị Th gửi đơn xin ly hôn với anh Mã Viết Th và yêu cầu giải quyết về con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hầu Thị Th và anh Mã Viết Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn vào 17/12/2010 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc và đã có 02 (hai) con chung tên là Mã Tuấn T, sinh ngày 16/10/2011và Mã Yến Nh, sinh ngày 15/8/2015. Sau một thời gian chung sống thì hai bên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Mã Viết Th thường xuyên rượu chè, cờ bạc, chửi vợ con. Đến năm 2020 thì hai bên bắt đầu sống ly thân cho đến nay. Chị Hầu Thị Th đã nộp đơn ly hôn tại Tòa án và được Tòa án thụ lý vụ án vào ngày 02 tháng 11 năm 2022, tại đơn xin ly hôn và tại bản khai, chị Hầu Thị Th xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Mã Viết Th. Tại Công văn số 1309/UBND ngày 25/11/2022, Ủy ban nhân dân thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn cho biết hiện nay anh Mã Viết Th đang sinh sống tại địa phương, chị Hầu Thị Th không sinh sống tại địa phương, do đó có cơ sở để xác định vợ chồng anh Mã Viết Th, chị Hầu Thị Th đã sống ly thân với nhau. Hội đồng xét xử thấy cuộc hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần giải quyết cho chị Hầu Thị Th được ly hôn anh Mã Viết Th là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị Hầu Thị Th và anh Mã Viết Th có 02 con chung tên Mã Tuấn T, sinh ngày 16/10/2011 và Mã Yến Nh, sinh ngày 15/8/2015, hiện nay đều đang ở cùng anh Mã Viết Th. Khi ly hôn chị Hầu Thị Th yêu cầu anh Mã Viết Th là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con chung, tại biên bản lấy lời khai anh Mã Viết Th có ý kiến nếu chị Hầu Thị Th kiên quyết ly hôn thì anh yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con chung vì các con đã ở với anh từ bé cho đến nay. Xét thấy hiện nay cả 02 con chung đều đang ở cùng anh Mã Viết Th, cháu Mã Tuấn T học tại trường Trung học cơ sở thị trấn Cao Lộc, còn cháu Mã Yến Nh đang học tại trường Tiểu học thị trấn Cao Lộc, từ khi chị Hầu Thị Th và anh Mã Viết Th sống ly thân về cuộc sống của hai cháu vẫn được anh Mã Viết Th chăm sóc đảm bảo cuộc sống, về phía chị Hầu Thị Th chỗ ở, nghề nghiệp không ổn định, để cuộc sống và việc học của cháu Mã Tuấn T, Mã Yến Nh được đảm bảo sự phát triển đầy đủ về mọi mặt, tránh gây sự xáo trộn ảnh hưởng đến tâm sinh lý của các cháu, Hội đồng xét xử thấy cần giao cho anh Mã Viết Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con chung là cháu Mã Tuấn T và Mã Yến Nh.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Mã Viết Th có ý kiến tùy theo khả năng cấp dưỡng của chị Hầu Thị Th. Chị Hầu Thị Th tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng (một triệu đồng) trên 01 tháng cho 01 con, tổng cho cả 02 con là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) trên 01 tháng, cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Căn cứ mức thu nhập bình quân đầu người/năm tại địa phương và hoàn cảnh hiện tại của chị Hầu Thị Th thì chị Hầu Thị Th làm công việc tự do, không có thu nhập ổn định, nên cần chấp nhận mức cấp dưỡng nuôi con của chị Hầu Thị Th. Chị Hầu Thị Th có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) trên 01 tháng cho hai con chung cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung và cho vay nợ chung: Không có.
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Hầu Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273, điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hầu Thị Th, cho chị Hầu Thị Th được ly hôn anh Mã Viết Th.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Mã Tuấn T, sinh ngày 16/10/2011 và cháu Mã Yến Nh, sinh ngày 15/8/2015 cho anh Mã Viết Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi; chị Hầu Thị Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hầu Thị Th có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Mã Viết Th mỗi tháng 1.000.000 đồng/01 người con, tổng cộng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/01 tháng/02 con cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án (13/01/2023).
4. Về lãi suất chậm trả: Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền phải thi hành án, mà người phải thi hành án chậm thi hành án, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
5. Về án phí: Nguyên đơn chị Hầu Thị Th phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng và tiền án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng, tổng cộng là 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2021/0001478, do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn thu ngày 02/11/2022, chị Hầu Thị Th còn phải nộp tiếp tiền án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
6. Về quyền kháng cáo: Chị Hầu Thị Th và anh Mã Viết Th có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết .
7. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - THADS huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Các đương sự; - UBND thị trấn Cao Lộc, H. Cao Lộc, T. Lạng Sơn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Thị Duyện |