- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị H Tr - Lê Thanh H - Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của…
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST Ngày 11- 5 - 2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Văn Quý
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Vinh
2. Bà Trần Thị Thúy Sâm
- Thư ký phiên toà: bà Đinh Thị Tường Vy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Hương Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 118/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H Tr, sinh năm 1994, có mặt;
- Bị đơn: Anh Lê Thanh H, sinh năm 1977, vắng mặt lần thứ 2.
Cùng địa chỉ: thôn ML, xã CC, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện ngày 16 tháng 11 năm 2022 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị H Tr trình bày:
Chị Hoàng Thị H Tr và anh Lê Thanh H đăng ký kết hôn vào năm 2012, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cam Chính, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Quá trình vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân do anh Hà thường hay chơi cờ bạc dẫn đến nợ tiền nhiều người. Chị Tr đã nhiều lần đứng ra trả nợ thay anh Hà và khuyên ngăn nhiều lần nhưng anh Hà vẫn không thay đổi mà còn tiếp tục chơi cờ bạc. Từ đó vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau đã 02 năm nay. Chị Tr nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Thanh H. Về con chung: chị Tr và anh H có 2 con chung là cháu Lê Hoàng Gia B, sinh ngày 31/5/2013, Lê Anh Kh, sinh ngày 14/3/2017. Ly hôn chị Tr có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 2 cháu; không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản trình bày ý kiến, bị đơn anh Lê Thanh H trình bày:
Anh Lê Thanh H và chị Hoàng Thị H Tr đăng ký kết hôn vào năm 2012, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cam Chính, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Quá trình vợ chồng chung sống có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H hay chơi cờ bạc dẫn đến nhiều lần lấy xe máy của vợ đưa đi cầm cố, anh H biết sai nên xin chị Tr tha thứ và hứa khắc phục, mong muốn đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Về con chung: chị Hoàng Thị H Tr và anh Lê Thanh H có 2 con chung là cháu Lê Hoàng Gia B, sinh ngày 31/5/2013, Lê Anh Kh, sinh ngày 14/3/2017. Anh H không có ý kiến gì về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử của Thẩm phán, Thư ký và của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền thụ lý vụ án; xác định tư cách tham gia tố tụng; tiến Hnh xác minh, thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng quy định. Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 BLTTDS. Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 203 BLTTDS. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định tại Điều 51 BLTTDS.
- Việc chấp Hnh pháp luật của nguyên đơn, bị đơn: nguyên đơn chấp hành đúng các quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã nhận đầy đủ các thông báo, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng chỉ tham gia phiên họp và hòa giải 1 lần, các lần còn lại bị đơn đều vắng mặt như vậy là không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
- Quan điểm về nội dung vụ án:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 24, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; đề nghị Hội đồng xét xử quyết định:
+ Về hôn nhân: xử cho chị Hoàng Thị Hà Tr ly hôn với anh Lê Thanh Hà.
+ Về nuôi con chung: giao cháu Lê Hoàng Gia B, sinh ngày 31/5/2013 và Lê Anh Kh, sinh ngày 14/3/2017 cho chị Tr trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh H không có công việc ổn định nên không phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về án phí: chị Hoàng Thị Hà Tr phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Hoàng Thị H Tr khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Lê Thanh H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn anh Lê Thanh H có nơi đăng ký thường trú tại thôn Mai Lộc 1, xã Cam Chính, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, anh Lê Thanh H vắng mặt lần thứ 2 nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về hôn nhân: Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, kết quả xác minh của Tòa án, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Hoàng Thị H Tr và anh Lê Thanh H đăng ký kết hôn vào năm 2012, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cam Chính, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Quá trình vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Lê Thanh H thường xuyên đánh bạc dẫn đến nợ tiền nhiều người. Chị Tr nhiều lần đứng ra trả nợ thay cho anh H và khuyên ngăn nhiều lần nhưng anh H vẫn không thay đổi. Mặc dù anh H có nguyện vọng xin đoàn tụ gia đình, tuy nhiên anh H chỉ có mặt tại Tòa án để hòa giải 1 lần còn từ đó về sau cố tình vắng mặt tại buổi hòa giải và phiên tòa, thể hiện thái độ bỏ mặc mối quan hệ vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Hà Tr, cho chị Hoàng Thị Hà Tr được ly hôn anh Lê Thanh H.
Về nuôi con chung: Chị Hoàng Thị Hà Tr có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả 2 con là Lê Hoàng Gia B, sinh ngày 31/5/2013 và Lê Anh Kh, sinh ngày 14/3/2017, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Tr có công việc, thu nhập và nơi ở ổn định để nuôi dạy con cái. Thực tế là từ trước đến nay chị Tr là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con nên nhằm đảm bảo tính ổn định cũng như quyền lợi về mọi mặt cho các cháu, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, giao 02 con cho chị Hoàng Thị Hà Tr chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về vấn đề cấp dưỡng: do anh H không có công việc ổn định nên chấp nhận ý kiến của chị Tr không buộc anh Hà cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: chị Hoàng Thị Hà Tr phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Về hôn nhân: xử cho chị Hoàng Thị Hà Tr được ly hôn với anh Lê Thanh H.
- Về nuôi con chung: giao cháu Lê Hoàng Gia B, sinh ngày 31/5/2013, Lê Anh Kh, sinh ngày 14/3/2017 cho chị Hoàng Thị Hà Tr trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh Lê Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí: chị Hoàng Thị Hà Tr phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số CC/2021/0000218 ngày 16/11/2022 của Chi cục THADS huyện Cam Lộ. Chị Tr đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND huyện Cam Lộ; - Chi cục THADS huyện Cam Lộ; - UBND xã Cam Chính - Đương sự; - Dán án; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quý |