vanban.org

Bản án 02/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Đặng Thị Hvà anh Đặng Văn D là vợ chồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn tranh chấp con chung"
  • Tòa quyết gì? 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12/01/2023
V/v Ly hôn, tranh chấp
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quang Đại

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Quý Sáng

2. Bà Phạm Thị Dung

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Quốc Vương - Thư ký Toà án nhân dân huyện

Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Trịnh

– Kiểm sát viên.

Ngày 12/01/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 140/2022/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H- Sinh năm: 1979

Địa chỉ: Thôn NK, xã PK, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai – Có đơn xin xét

xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Đặng Văn D - Sinh năm: 1975

Địa chỉ: Thôn NK, xã PK, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai – Có đơn xin xét

xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai tiếp theo nguyên đơn Đặng Thị Htrình

bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Hvà anh Đặng Văn D tự nguyện chung

sống như vợ chồng từ tháng 11 năm 1994 không làm thủ tục đăng ký kết hôn. Sau khi làm thủ tục cưới hỏi theo phong tục 02 người về chung sống hạnh phúc đến năm1997 thì phát sinh mẫu thuẫn, nguyên nhân do anh D thường xuyên tụ tập, uống rượu sau đó về nhà gây sự đánh đập chị Hiền. Sự việc diễn ra liên tục đến nay chị Hvà anh D thường xuyên bất hòa. Nội dung sự việc đã được bố mẹ 02 bên khuyên bảo nhiều lần nhưng anh D không thay đổi. Từ năm 2017 chị Hvà anh D đã sống ly thân và không còn quan T đến nhau nữa. Chị Hxét thấy không thể tiếp tục chung sống với anh D được nên khởi kiện yêu cầu ly hôn anh D.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh chị có 04 con chung: Cháu

Đặng Thị Miến – Sinh năm 1996; Cháu Đặng Thị Dần – Sinh năm 1998; Cháu Đặng Đặng Thị Sìu – Sinh ngày 29 tháng 03 năm 2002; Cháu Đặng Thị T – Sinh ngày 03 tháng 6 năm 2005. Sau khi ly hôn chị Hcó nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Các cháu Miến, Dần, Sìu đã trưởng thành chị Hkhông yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: chị Hkhông yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong biên bản lấy lời khai của Tòa án đối với anh Đặng Văn D có nôi dung

anh D đồng ý vớ con về thời điểm chung sống, về con chung và không yêu cầu chia tài sản. Về mâu thuẫn do anh và chị Hkhông đồng nhất về quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi chửi nhau. Nay chị Hiều khởi kiện yêu cầu ly hôn anh nhất trí ly hôn. Hiện nay anh D bị mất sức lao động nên không có thu nhập.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Trong quá trình giải

quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành quy định của pháp luật quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS. Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, Điều 147, 228, 238 BLTTDS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đăng Thị Hiền:

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đặng

Thị Hvà anh Đặng Văn D.

- Về con chung: giao cháu Đặng Thị T (sinh ngày 03/6/2005) cho chị

Đặng Thị Htrực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến

khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Đặng Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra

tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Chị Hlàm đơn đề nghị Tòa án

giải quyết ly hôn anh Đặng Văn D và giải quyết nuôi con chung; anh D cư trú tại huyện Bảo Yên, vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: các đương sự đã có đơn xin xét xử vắng mặt . Vì vậy

HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Đặng Thị Hvà anh Đặng Văn D sống chung như vợ chồng, anh chị có

đủ điều kiện đăng ký kết hôn mà không đến UBND cấp xã tại nơi cư trú (PK) đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân gia đình quy định “Việc đăng ký kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này (Luật HNGĐ) và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”; Khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình quy định “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu lý hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên không công nhận quan hệ vợ chông”. Vì vậy việc chung sống như vợ chồng giữa chị Hvà anh D không được pháp luật công nhận. Vì vậy cần tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Hvà anh D là vợ chồng.

Về con chung:

Theo Điều 15 Luật Hôn nhân gia đình quy định về Quyền, nghĩa vụ của cha

mẹ và con trong trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì con được giải quyết theo quy định của Luật này (Luật HNGĐ) về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con. Vì vậy cần áp dụng theo Luật hôn nhân gia đình để giải quyết về con chung của chị Hvà anh D.

Trong nội dung bản lấy ý kiến cháu Đặng Thị T, cháu T có nguyện vọng

được sống cùng chị Hsau khi anh chị ly hôn, hiện nay cháu T đang sống, học tập ổn định cùng chị Hiền. Anh D bị liệt không lao động sản xuất được. Vì vậy cần giao cháu Đặng Thị T – Sinh ngày 03 tháng 6 năm 2005 cho chị Htrực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 9; Điều 14: Điều 15; Điều 53; Điều Điều 81, Điều

82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân:

Không công nhận chị Đặng Thị Hvà anh Đặng Văn D là vợ chồng.

2. Về con chung:

Giao các cháu Đặng Thị T – Sinh ngày 03 tháng 6 năm 2005 cho chị Htrực

tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai

được quyền cản trở.

3. Về án phí:

Chị Đặng Thị Hphải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn

nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001503 ngày 15/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án

dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn

15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết. THÀNH VIÊN HĐXX

THẢM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Quý Sáng – Phạm Thị Dung

Vũ Quang Đại

Cỡ chữ