- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ kiện xin ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa anh Đỗ Văn T và chị Hoàng Thị H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đỗ Văn T được ly hôn chị Hoàng Thị H .
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG TỈNH HÀ GIANG Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST |
Ngày: 09 - 01 - 2023 "V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Oanh
Ông Nguyễn Hồng Diện.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Dạ Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Mai Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2022/QĐST-HNGĐ ngày 04/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đỗ Văn T , sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh H “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.
- Bị đơn: Chị Hoàng Thị H , sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh H “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/11/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Đỗ Văn T trình bày: Anh và chị Hoàng Thị H tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng Yên, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vào năm 2016 trên cơ sở tự nguyện của cả đôi bên. Sau khi kết hôn thì vợ chồng anh chị cùng nhau sinh sống tại Thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh H . Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh chị sống hạnh phúc với nhau được khoảng hai năm đến 11/2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách hai vợ chồng không hòa hợp, luôn bất đồng quan điểm sống dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên xẩy ra cãi vã nhau, mâu thuẫn giữa hai anh chị đã được hai bên gia đình khuyên bảo, hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng anh chị cũng không cải thiện được mà ngày càng trầm trọng hơn. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2018 cho đến nay, mỗi người sống một nơi, không quan tâm đến nhau, việc ai người đấy làm. Anh T nhận thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị Hoàng Thị H .
Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có một con chung là cháu Đỗ Minh Q , sinh ngày 01/6/2017. Khi ly hôn, anh T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Q cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi và anh không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Đỗ Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Hoàng Thị H không gửi bản tự khai, không cung cấp chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của anh T , mặc dù đã được Tòa án trực tiếp tống đạt Thông báo thụ lý vụ án. Tòa án đã triệu tập bị đơn là chị Hoàng Thị H nhiều lần để lấy lời khai và tham gia hòa giải nhưng chị Hoàng Thị H vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án đã Quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại các biên bản xác minh ngày 15 và ngày 16/12/2022 của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang với bà Hoàng Thị H là mẹ chồng chị Hoàng Thị H , với ông Nguyễn Quang T là trưởng thôn T, xã Đ và đại diện UBND xã Đồng Yên nơi anh Đỗ Văn T và chị Hoàng Thị H sinh sống phản ánh về tình trạng hôn nhân của anh chị như sau:
Anh Đỗ Văn T , sinh năm 1996 và chị Hoàng Thị H , sinh năm 1999 có đăng ký hộ khẩu thướng trú tại Thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh H từ tháng 4 năm 2016 đến nay. Anh Đỗ Văn T và chị Hoàng Thị H , tìm hiểu và xây dựng gia đình với nhau từ năm 2016, trên cơ sở hai bên tự nguyện tìm hiểu, không bị ép buộc và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng Yên, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, sau khi kết hôn thì vợ chồng anh chị cùng nhau sinh sống tại Thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh H . Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh chị sống hạnh phúc với nhau được khoảng hai năm. Đến 11/2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách hai vợ chồng không hòa hợp, luôn bất đồng quan điểm sống dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên xẩy ra cãi vã nhau, mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được hai bên gia đình khuyên bảo, hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng anh chị cũng không cải thiện được mà ngày càng trầm trọng hơn. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2018 cho đến nay, mỗi người sống một nơi, không quan tâm đến nhau, việc ai người đấy làm. Hiện nay anh Đỗ Văn T có yêu cầu xin ly hôn chị Hoàng Thị H , đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị có một con chung, cháu là Đỗ Minh Q , sinh ngày 01/6/2017. Trong thời gian anh chị sống ly thân, anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q rất tốt. Anh T và chị H đều là lao động tự do, có mức thu nhập tương đương nhau, đều chưa có nhà ở riêng mà sống cùng bà H tại thôn Thượng An. Về tài sản chung của anh chị do anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên chúng tôi không cung cấp thông tin.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự phát biểu: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử cho anh Đỗ Văn T được ly hôn chị Hoàng Thị H . Việc nuôi con: Đề nghị giao cháu Đỗ Minh Q , sinh ngày 01/6/2017 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi và chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn. Về án phí, đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn là anh Đỗ Văn T có đơn khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với bị đơn là chị Hoàng Thị H , chị Hoàng Thị H có nơi cư trú tại thôn T, xã Đ, huyện B, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn là anh Đỗ Văn T vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn là chị Hoàng Thị H vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Đỗ Văn T , chị Hoàng Thị H .
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Đỗ Văn T và chị Hoàng Thị H xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị có thời gian ngắn chung sống với nhau hạnh phúc. Đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến anh chị xô sát, cãi vã nhau. Mâu thuẫn giữa hai anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng quan hệ hôn nhân của anh chị vẫn không được cải thiện. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, việc ai người ấy làm, không còn quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng chị Hoàng Thị H không hợp tác để tham gia hòa giải. Xét thấy, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho anh Đỗ Văn T được ly hôn chị Hoàng Thị H .
[2.2] Về việc nuôi con: Hội đồng xét xử thấy rằng quá trình chung sống, anh chị có một con chung, cháu Đỗ Minh Q , sinh ngày 01/6/2017. Về khả năng kinh tế, hai anh chị có kinh tế tương đương nhau. Về nguyện vọng nuôi con, anh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con xuất phát từ tình cảm, từ lợi ích của con; còn bị đơn là chị Hoàng Thị H không thể hiện nguyện vọng về việc nuôi con, tuy nhiên trong thời gian anh chị sống ly thân đến nay, anh T vẫn trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q tốt. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Đỗ Minh Q , sinh ngày 01/6/2017 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi và chị Hoàng Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
[2.3] Về chia tài sản chung: Nguyên đơn là anh Đỗ Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[2.4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đỗ Văn T được ly hôn chị Hoàng Thị H .
2. Về việc nuôi con: Xử giao giao cháu Đỗ Minh Q , sinh ngày 01/6/2017 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi và chị Hoàng Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung anh T , chị H có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Anh Đỗ Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: 0003217, ngày 16/11/2022 của cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Chị Hoàng Thị H không phải chịu án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Giang; - VKSND tỉnh Hà Giang; - VKSND huyện Bắc Quang; - Chi cục THADS huyện Bắc Quang; - UBND xã Đồng Yên; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Hồng |