vanban.org

Bản án 02/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Mến"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA BỂ
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST
Ngày 18 tháng 5 năm 2023.
“ V/v: Yêu cầu không công
nhận quan hệ vợ chồng, tranh
chấp nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CÔNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thế Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Ngọc Hóa

Bà Hoàng Thị Thào.

Thư ký phiên tòa: Bà Bào Kim Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Nông Thiêm Mẫn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 26/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 về việc “Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 27/4/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị M, sinh năm 1979. Trú tại: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị đơn: Anh Dương Thanh L, sinh năm 1976. Trú tại: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Giữa tôi và anh Dương Thanh L có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương vào năm 1995, nhưng chúng tôi không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, cuộc sống của hai người ban đầu hạnh phúc, đến năm 2016 giữa hai người phát sinh mâu thuẫn và không sống cùng nhau kể từ đó cho đến nay. Nay tôi xác định tình cảm giữa hai người không còn, nên tôi yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa tôi với anh Dương Thanh L.

Về con chung, hai chúng tôi có hai người con chung là cháu Dương Thanh L1, sinh ngày 23/01/1997 và cháu Dương Thị Kim Ch, sinh ngày 22/7/2007. Đối với con lớn hiện nay cháu đã trưởng thành, nên tôi không có yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết đối với cháu, còn cháu nhỏ Dương Thị Kim Ch, sinh ngày 22/7/2007 đang ở cùng với anh Dương Thanh L1 và đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho cháu ở cùng với bố, về phần cấp dưỡng nuôi con tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung, chúng tôi không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Tại bản tự khai của bị đơn trình bày: Tôi với chị Lê Thị M có tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương vào năm 1995, nhưng chúng tôi không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, cuộc sống của hai người ban đầu hạnh phúc, đến năm 2016 giữa hai người phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và không sống cùng nhau từ đó cho đến nay. Nay xác định tình cảm giữa hai người không còn, chị Lê Thị M có đơn yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa tôi và chị Lê Thị M, tôi nhất trí.

Về con chung, hai chúng tôi có hai người con chung là cháu Dương Thanh L1, sinh ngày 23/01/1997 và cháu Dương Thị Kim Ch, sinh ngày 22/7/2007. Đối với con lớn hiện nay cháu đã trưởng thành, nên tôi không có yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết đối với cháu, còn cháu nhỏ Dương Thị Kim Ch, sinh ngày 22/7/2007 đang ở cùng với tôi và đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho cháu ở cùng tôi, về phần cấp dưỡng nuôi con tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung, chúng tôi không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Do vụ án thuộc trường hợp không được hòa giải về quan hệ hôn nhân, nên Tòa án không tiến hành hòa giải về quan hệ hôn nhân. Tòa án chỉ tiến hành hòa giải về vấn đề nuôi con chung và các bên đều thống nhất. Theo quy định của pháp luật về Hôn nhân và gia đình đối với trường hợp không có giấy đăng ký kết hôn mà xin Ly hôn thì Tòa án giải quyết theo thủ tục chung, nên Tòa án nhân dân huyện Ba Bể đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu.

- Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình tố tụng, xây dựng hồ sơ và tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã đảm bảo đúng quy định. Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, do vậy căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn

Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX:

- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị M và anh Dương Thanh L.

- Về con chung:

+ Đối với con lớn là cháu Dương Thanh L1 hiện nay cháu đã trưởng thành, nên không xem xét giải quyết;

+ Đối với cháu nhỏ là cháu Dương Thị Kim Ch sinh ngày 22/7/2007, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết giao cho anh Dương Thanh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị Lê Thị M không phải đóng góp phí tổn cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị M và anh Dương Thanh L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí chị Lê Thị M phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về trình tự thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị M và anh Dương Thanh L đều có nơi cư trú tại thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, do vậy căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Giữa nguyên đơn chị Lê Thị M và bị đơn là anh Dương Thanh L có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương vào năm 1995, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, cuộc sống của hai người ban đầu hạnh phúc, đến năm 2016 giữa hai người phát sinh mâu thuẫn và không sống cùng nhau cho đến nay. Nay tình cảm của hai người không còn, nên chị Lê Thị M yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng với anh Dương Thanh L.

Theo quy định của pháp luật về Hôn nhân và gia đình tại khoản 1 Điều 9 có quy định như sau: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.”

Việc chị Lê Thị M và anh Dương Thanh L chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm pháp luật về Hôn nhân và gia đình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.....” do vậy giữa chị Lê Thị M và anh Dương Thanh L không được pháp luật công nhận là vợ chồng, nay anh chị có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, cho nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xem xét theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị Lê Thị M và anh Dương Thanh L có hai người con chung là cháu Dương Thanh L1, sinh ngày 23/01/1997 và cháu Dương Thị Kim Ch, sinh ngày 22/7/2007, các cháu đều phát triển bình thường. Đối với cháu Dương Thanh L1, sinh ngày 23/01/1997 hiện nay cháu đã trên 18 tuổi, nên Tòa án không xem xét giải quyết đối với cháu. Đối với cháu Dương Thị Kim Ch, sinh ngày 22/7/2007 hiện nay đang ở cùng với bố và nguyện vọng của cháu là được ở cùng bố và anh Dương Thanh L cũng có nguyện vọng được nuôi con chung, do vậy việc giao con chung là cháu Dương Thị Kim Ch, sinh ngày 22/7/2007 cho anh Dương Thanh L chăm sóc và bản thân chị Lê Thị M cũng đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho cháu ở cùng với bố, xét thấy đây là nguyện vọng chính đáng và để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, thấy rằng yêu cầu của cả hai là phù hợp với nguyện vọng của cháu Dương Thị Kim Ch, đồng thời phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị M và anh Dương Thanh L không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị M và anh Dương Thanh L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Lê Thị M phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 206; Điều 208; Khoản 1 Điều 227; Điều 273/Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9; Khoản 1 Điều 14; Điều 51; Điều 53; Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

* Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị M:

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lê Thị M và anh Dương Thanh L là vợ chồng.

- Về con chung: Giao con chung là Dương Thị Kim Ch, sinh ngày 22/7/2007 cho anh Dương Thanh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Chị Lê Thị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị M và anh Dương Thanh L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị M và anh Dương Thanh L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147/Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Lê Thị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0001160 ngày 14/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Xác nhận chị Lê Thị M đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ