- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "ông Lê Minh T khởi kiện ông Tạ Thành S và bà Võ Thị Đ"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 117 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/DS-ST Ngày: 11/01/2023 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuân bà bà Phạm Thị Liễu
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Luật – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2021/TLST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2022/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2022/QĐST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Minh T – sinh năm 1972
Địa chỉ: Tổ x, Ấp y, xã M.Đ, huyện VC, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Tạ Thành S – sinh năm 1970 và bà Võ Thị Đ – sinh năm 1970
Địa chỉ: Ấp P.M (Ấp P.M 2 cũ), xã P.L, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị L – sinh năm 1985
Địa chỉ: Tổ x, Ấp y, xã M.Đ, huyện VC, tỉnh Đồng Nai.
(Ông T, bà L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông S, bà Đ vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Minh T trình bày:
Vợ chồng ông T, bà L có quen biết ông S, bà Đ nên có cho ông S, bà Đ vay số tiền 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng) thời hạn đến tháng 3/2017, không thỏa thuận lãi suất, theo “Giấy mượn nợ” ngày 18/11/2016.
Do phía ông S, bà Đ không trả tiền nên ông T khởi yêu cầu ông S, bà Đ có nghĩa vụ trả số tiền đã vay tổng cộng là 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng), không yêu cầu tiền lãi. Ngoài ra, ông T không có yêu cầu nào khác.
Tại lời khai trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị L trình bày:
Bà L đồng ý phần trình bày, khởi kiện của ông T. Đối với số tiền đã cho vay là tài sản chung của ông bà, nên đề nghị xem xét phía ông S, bà Đ phải có trách nhiệm trả cho ông bà theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Tạ Thành S và bà Võ Thị Đ không đến Tòa án tham gia tố tụng, khi Tòa án đến trực tiếp tại địa phương thì không gặp được, nên không thu thập được lời khai.
Tòa án đã tiến hành sao gửi các tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp và thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Các đương sự không có ý kiến gì khác đối với các tài liệu, chứng cứ.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự không thay đổi, bổ sung ý kiến, đề nghị của mình, bị đơn không có yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập. Các đương sự không giao nộp, bổ sung thêm tài liệu chứng cứ nào khác, không yêu cầu triệu tập đương sự, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Ông T và bà L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông S và bà Đ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ gốc là 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng).
- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Tạ Thanh Sang, bà Võ Thị Đ có nơi cư trú tại xã P.L, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về tư cách tố tụng: Ông Lê Minh T khởi kiện yêu cầu ông S, bà Đ có nghĩa vụ trả số tiền đã vay. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; ông T là người khởi kiện ông S, bà Đ nên xác định tư cách đương sự ông T là nguyên đơn, bà Đ là bị đơn. Đối với số tiền ông T đã cho vay là tài sản chung của ông T và bà Lê Thị L nên xác định tư cách đương sự bà L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tư cách đương sự được quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thời hiệu khởi kiện: Văn bản “Giấy mượn nợ” ngày 18/11/2016 có thời hạn đến tháng 3/2017. Đến ngày 28/11/2020, ông T có đơn yêu cầu khởi kiện. Căn cứ theo Điều 429 Bộ luật dân sự thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết đối với hợp đồng là 03 (ba) năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, tuy nhiên theo Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015 thì Tòa án chỉ áp dụng về thời hiệu khởi kiện theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc. Căn cứ Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án thụ lý vụ án để giải quyết, không xem xét về thời hiệu khởi kiện là đúng quy định pháp luật.
- Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã được cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án. Ông T, bà L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông S và bà Đ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về yêu cầu khởi kiện:
Ông T khởi yêu cầu ông S, bà Đ có nghĩa vụ trả cho ông T và bà L số tiền đã vay tổng cộng là 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng), không yêu cầu tiền lãi theo văn bản “Giấy mượn nợ” ngày 18/11/2016. Văn bản này với nội dung vay tài sản giữa các bên là có thật và không trái pháp luật, bởi lẽ:
“Giấy mượn nợ” ngày 18/11/2016 là giao dịch dân sự do các bên ông T, ông S và bà Đ tự nguyện ký kết, có năng lực hành vi dân sự, mục đích và hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông S và bà Đ không đến Tòa án tham gia tố tụng, khi Tòa án đến trực tiếp tại địa phương thì không gặp được, nên không thu thập được lời khai.
Vì vậy, trên cơ sở yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án tiến hành thu thập các tài liệu có chữ ký, chữ viết của bị đơn để tiến hành trưng cầu giám định đối với chữ ký, chữ viết của bị đơn tại “Giấy mượn nợ” ngày 18/11/2016. Tại Kết luận giám định số 896/KL-KTHS ngày 07/6/2022 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an xác định: Chữ ký, chữ viết tại phần mục “người mượn” đứng tên bị đơn trên tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết dùng làm mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra. Như vậy, kết luận giám định đã xác định chữ ký, chữ viết tại “Giấy mượn nợ” ngày 18/11/2016 do ông T, bà Sang viết, ký xác nhận là đúng sự thật, phù hợp với lời khai của nguyên đơn.
Qua xác minh tại địa phương, thể hiện ông S, bà Đ đã bỏ đi biệt tích khỏi nơi cư trú nên ông S đã yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và được giải quyết theo Quyết định số 17/2021/QĐST-VDS ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đối với số tiền ông T đã cho vay theo “Giấy mượn nợ” ngày 18/11/2016 là tài sản chung của ông T, bà L nên Hội đồng xét xử xét thấy ông S, bà Đ phải có nghĩa vụ trả tiền cho ông T, bà L.
Đối với nghĩa vụ thực hiện, ông S, bà Đ đã vi phạm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 466, Điều 470 Bộ luật dân sự nên nguyên đơn ông T khởi kiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
Bị đơn không có yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện đối với nghĩa vụ trả số tiền gốc của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận. Do nguyên đơn không yêu cầu khởi kiện đối với nghĩa vụ trả tiền lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Ông S, bà Đ phải chịu 55.000.000đ x 05% = 2.750.000đ (Hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông T số tiền 1.375.000đ (Một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 184, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 117, Điều 207, Điều 208, Điều 210, Điều 213, Điều 221, Điều 223, Điều 357, Điều 385, Điều 401, Điều 429, Điều 463, Điều 464, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự;
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Minh T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn ông Tạ Thành S và bà Võ Thị Đ.
Buộc ông Tạ Thành S và bà Võ Thị Đ có nghĩa vụ trả cho ông Lê Minh T và bà Lê Thị L số tiền nợ gốc là 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí: Ông Tạ Thành S và bà Võ Thị Đ phải chịu 2.750.000đ (Hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông T số tiền 1.375.000đ (Một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0003933 ngày 07/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tân Phú; - Chi cục THA DS huyện Tân Phú; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu Hồ sơ – Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |