vanban.org

Bản án 02/2023/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 03/01/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/01/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn ứ điểm b Khoản 1 Điều 38, Điều 148, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1

Căn ứ luật Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009 ó hiệu lự ngày 01/7/2010; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "la thị hương - la thị bảy"
  • Tòa quyết gì? Căn ứ điểm b Khoản 1 Điều 38, Điều 148, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/DS-PT
Ngày: 03/01/2023
V/v: Tranh h p quyền sử
dụng đ t.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Bà Trần Thị Thủy

Các Thẩm phán:

1/ Bà Nguyễn Thị Huyền

2/ Bà Trần Thị Kim Quy

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị N Duyên - Thư ký

Tòa án nhân dân Thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà

Nguyễn Thị Như Khương - Kiểm Sát viên.

Ngày 03 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành Phố H đã xét

xử phú thẩm ông khai vụ án thụ lý số 428/2022/DS-PT ngày 14 tháng 11 năm

2022 về việc “Tranh ch p quyền sử dụng đ t”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 178/2022/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2022

ủa Tòa án nhân dân Quận S, Thành phố H bị kháng áo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phú thẩm số 6197/2022/QĐ-PT ngày

06 tháng 12 năm 2022, giữa á đương sự:

- Nguyên đơn: Bà La Thị H, sinh năm 1967. Địa chỉ: Số 255/19, đường P,

Phường B, Quận S, Thành phố H.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Đức Duy H, sinh năm 1976. Địa chỉ:

Số 1442/11 Đường 3/2, Phường H, Quận M, Thành phố H.

(Gi y ủy quyền số ông hứng: 00011031, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD

do Văn phòng Công hứng Đ chứng nhận ngày 12/5/2020).

- Bị đơn: Bà La Thị B, sinh năm 1956.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Phương T, sinh năm 1989.

Cùng địa chỉ: Số 231/27A (số mới: 231/73B), đường B, Phường T, Quận S,

Thành phố H.

(Gi y ủy quyền số ông hứng: 09289, quyển số 06 TP/CC-SCC/HĐGD do

Phòng Công hứng B, Thành phố H chứng nhận ngày 29/6/2020).

Người kháng áo: Bà La Thị H

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/5/2020; Bản tự khai và Biên bản về kiểm tra

việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nguyên đơn là bà La Thị H do người đại diện theo ủy quyền là ông Võ Đức Duy H trình bày:

Bà La Thị H là háu ngoại ủa bà Nguyễn Thị N (sinh năm 1926, hết năm

2007). Năm 1991, bà N cho bà H một phần đ t kế bên ăn nhà ó địa hỉ số 69/14 đường V, Phường T, Quận S, Thành phố H, ó lập văn bản tặng ho nhưng sau đó bà H đã làm th t lạ , nên năm 2006, bà N ó lập tờ tái xá nhận về việ bà N ó ho bà H đ t vào năm 1991.

Theo gi y tái xá nhận ủa bà N không ghi ụ thể diện tí h đ t ho bà H,

nhưng ăn ứ á tài liệu nguyên đơn trí h lụ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đ t đai Quận S thì phần diện tí h đ t nêu trên ó diện tí h khoảng 46m2 thuộ thửa đ t số 61, tờ bản đồ số 14 BĐĐC Phường T, Quận S năm 1991, á ạnh thể hiện như sau: Cạnh giáp hẻm 231 B dài 5,94m; ạnh hông tiếp giáp với đường đi vào nhà 231/73A B ủa bà La Thị B ó hiều dài 7,92m; ạnh mặt sau tiếp giáp với nhà bà La Thị B dài 4,76m; ạnh òn lại tiếp giáp với nhà 69/14 V ó hiều dài 9,55m. Khi đượ bà N ho đ t thì bà H ó rào lưới B40 bao xung quanh, bên trong dựng một ái hòi tạm để hứa vật dụng.

Vào khoảng năm 1999, do không òn sử dụng ái hòi nên bà H đã tháo dỡ

và để trống thửa đ t.

Ngày 07/5/2005, bà H nhận đượ quyết định ủa Hội đồng bồi thường, hỗ trợ

thiệt hại và giải phóng mặt bằng dự án nâng p đô thị Quận S về việ bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và giải phóng mặt bằng một phần diện tí h đ t, theo hồ sơ, bản vẽ ủa Ban bồi thường giải phóng mặt bằng Quận S thì diện tí h phải giải tỏa là 14,3m2, diện tí h đ t òn lại là 29,5m2.

Sau khi bàn giao phần diện tí h 14,3m2 ho Ban bồi thường giải phóng mặt

bằng Quận S, bà H đã nhận đượ tiền bồi thường và tiếp tụ rào thửa đ t trên bằng

lưới rào.

Tuy nhiên, khi bà H tiến hành đo vẽ để xin p gi y hứng nhận quyền sử

dụng đ t đối với phần diện tí h đ t nêu trên thì đã bị bà La Thị B và gia đình ngăn

ản. Sau đó, Bà B và gia đình nhổ bỏ ọ dựng và lưới rào bao quanh đ t ho san

l p và đổ bê tông lên thửa đ t ủa bà H nhằm thay đổi hiện trạng và hiếm giữ trái

phép tài sản ủa bà H là phần đ t ó diện tí h 29,5m2 ủa bà H đã nhận tặng ho từ

bà Nguyễn Thị N.

Nay bà La Thị H yêu ầu Tòa án buộ bà La Thị B phải tháo dỡ toàn bộ hàng

rào mà bà La Thị B đã rào hắn trên phần đ t ủa bà H đượ ho tại thửa đ t số 61,

tờ bản đồ số 14, bộ địa hính Phường T, Quận S để trả lại ho bà H hiện trạng đ t

trống ó diện tí h 29,5m2.

Ngoài ra, bà La Thị H không ó yêu ầu gì khá .

* Theo bản tự khai; Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai

chứng cứ và hòa giải, bị đơn là bà La Thị B do người đại diện theo ủy quyền là bà

Lê Phương T trình bày:

Nguồn gốc phần đ t tranh ch p là thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị N

(sinh năm 1926, hết năm 2007) khai thá sử dụng trướ năm 1975. Bà N là bà

ngoại của bà và bà La Thị H.

Bà La Thị B không đồng ý với yêu ầu khởi kiện của nguyên đơn vì trong tờ

tái xá nhận của bà N không ghi ụ thể cho bà H diện tí h đ t là bao nhiêu. Phía bị

đơn hỉ đồng ý với phần diện tí h bà H được sử dụng tại thửa 61 là 31,50m2 (chiều

ngang 3,50m x chiều dài 9m) theo xá nhận của bà La Thị B tại Tờ cam kết &

tường trình về nguồn gố nhà, đ t tại số 231/27A B ngày 16/01/2003. Phần diện

tí h này đã bị giải tỏa một phần là 14,30 m2, nên Bà B đồng ý giao ho bà H phần

òn lại là 31,50 m2 - 14,30 m2 = 17,20 m2 (chiều ngang 3,50 tính từ nhà số 69/14

V).

Do đó, bị đơn không đồng ý với yêu ầu khởi kiện của nguyên đơn bà La Thị

H về việc buộc Bà B phải trả lại phần đ t ó diện tí h 29,5m2 cho bà H.

Phần diện tí h đ t tại địa chỉ 231/73B đường B, Phường T, Quận S của bà La

Thị B là ủa bà Nguyễn Thị N cho Bà B và đến nay hưa được c p gi y chứng

nhận quyền sử dụng đ t. Cá gi y tờ, tài liệu khá ó liên quan đến phần diện tí h

đ t của Bà B hiện nay đang đượ lưu giữ tại Phòng Tài nguyên và Môi trường

Quận S. Bà B không đồng ý với Tờ tái xá nhận đề ngày 12/9/2006 đứng tên

Nguyễn Thị N do bà H giao nộp ho Tòa án vì việc bà N cho bà H đ t hưa được

á đồng thừa kế của bà N đồng ý.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 178/2022/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2022

của Tòa án nhân dân Quận S, Thành phố H đã tuyên;

1. Ch p nhận một phần yêu ầu khởi kiện của nguyên đơn là bà La Thị H:

Buộ bà La Thị B ó nghĩa vụ giao lại ho bà La Thị H phần đ t ó diện tí h

17,20 m2 thuộc thửa số 61, tờ bản đồ số 14 bộ địa hính Phường T, Quận S, Thành phố H (tại địa chỉ số 231/27A - số mới: 231/73B đường B, Phường T, Quận S). Có vị trí ụ thể như sau: Chiều ngang 3,50m tính từ điểm tiếp giáp với nhà số 69/14 Đường V, Phường T, Quận S đến giáp ranh phần ngõ vào nhà bà La Thị B (BK 29, 61 tờ bản đồ thứ 14 bộ địa hính Phường T, Quận S); chiều dài 4,90m tính từ điểm giáp hẻm 231 B, Phường T, Quận S trở vào giáp đ t nhà bà La Thị B.

Bà La Thị H ó quyền liên hệ với á ơ quan ó thẩm quyền để thực hiện

thủ tụ đăng ký quyền sử dụng đ t theo quy định.

2. Không h p nhận một phần yêu ầu khởi kiện của bà La Thị H về việ yêu

cầu bà La Thị B phải giao cho bà H diện tí h đ t 12,3 m2 thuộc thửa số 61, tờ bản đồ số 14 bộ địa hính Phường T, Quận S, Thành phố H (tại địa chỉ số 231/27A - số mới: 231/73B đường B, Phường T, Quận S).

Ngoài ra, Tòa án p sơ thẩm òn tuyên về phần án phí và quyền kháng áo

của á đương sự theo luật định.

Ngày 12 tháng 9 năm 2022, nguyên đơn bà La Thị H ó đơn kháng áo đề

nghị sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm ông nhận cho bà H được quyền sử dụng đối với phần diện tí h đ t mà bà Nguyễn Thị N đã ho tặng bà H ó diện tí h ngang 3,5m x dài 6,2m = 21,7m2 thuộc một phần thửa 61, tờ bản đồ số 14 (BĐĐC), Phường T, Quận S, Thành phố H. Đây là phần diện tí h đ t mà bà Nguyễn Thị N đã tặng cho bà H sau khi trừ đi phần diện tí h đ t được Ủy ban nhân dân Quận S giải phóng mặt bằng để mở rộng hẻm 231 B vào năm 2005.

Tại phiên tòa phú thẩm:

Người đại diện hợp pháp ủa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu ầu kháng áo.

Phía bị đơn đề nghị không h p nhận kháng áo ủa nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Tòa án p phú thẩm đã thự hiện đúng á quy định pháp

luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phú thẩm ho đến trướ khi nghị án, Hội đồng xét xử phú thẩm đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tụ theo quy định ủa Bộ luật Tố tụng dân sự; á đương sự trong vụ án đã h p hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ ủa mình.

+ Về nội dung: Th y tại phiên tòa phía nguyên đơn kháng áo yêu ầu sửa án sơ

thẩm vì ho rằng diện tí h bị thu hồi hỉ là 9,8m2, không phải là 14,3m2 nhưng lại

không ó tài liệu hứng ứ hợp pháp nào hứng minh diện tí h bị thu hồi và đượ bồi

thường hỗ trợ hỉ là 9,8m2 nên đề nghị Hội đồng xét xử phú thẩm không h p nhận

kháng áo ủa nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Nhưng nhận th y p

sơ thẩm không buộ bị đơn phải tháo bỏ tường rào khi trên phần diện tí h đ t phải trả

ho nguyên đơn là thiếu sót. Nên đề nghị sửa án sơ thẩm về phần này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên ứu á tài liệu ó trong hồ sơ vụ án, đượ thẩm tra tại phiên

tòa và ăn ứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm

sát nhân dân Thành phố H phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử

phú thẩm nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng áo ủa nguyên đơn bà La Thị H òn trong

thời hạn kháng áo theo qui định tại Điều 273 và Điều 276 Luật Tố tụng dân sự nên

kháng áo là hợp lệ và đượ xem xét theo trình tự phú thẩm.

. về nội dung kháng áo

Về yêu ầu kháng áo ủa nguyên đơn đề nghị Tòa buộ bà Lê Thị Bảy giao

trả cho bà H phần đ t ó diện tí h ngang 3,5m x dài 6,2m = 21,7m2 thuộc một phần

thửa 61, tờ bản đồ số 14 (BĐĐC), Phường T, Quận S, Thành phố H. Đây hính là

phần diện tí h đ t mà bà Nguyễn Thị N đã tặng cho bà H sau khi trừ đi phần diện

tí h đ t được Ủy ban nhân dân Quận S giải phóng mặt bằng để mở rộng hẻm 231 B

vào năm 2005.

Xét th y, tại mục [3.1] trong phần nhận định của Bản án dân sư sơ thẩm số

178/2022/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận S, Thành

phố H đã ăn ứ vào á tài liệu chứng cứ là Tờ tường trình và am kết ngày

25/10/2002, Tờ Tái xá nhận ngày 12/9/2006 do bà Nguyễn Thị N là bà ngoại của

bà La Thị H để xá định nguồn gốc phần diện tí h đ t mà bà N cho bà H là

31,50m2.

Căn ứ Quyết định của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và giải phóng

mặt bằng dự án nâng p đô thị Quận S số 1988/QĐ-HĐBT ngày 7/6/2005; Căn ứ

Bảng thống kê diện tí h giải tỏa do Ban bồi thường giải phóng mặt bằng Quận S

phê duyệt; ăn ứ Bản chiết tính hi phí bồi thường hỗ trợ thiệt hại dự án nâng p

đô thị thành phố H khu vực Quận S; Căn ứ đơn khởi kiện ùng á bản tự khai của

bà H trong quá trình giải quyết vụ kiện ó đủ ơ sở để khẳng định phần diện tí h

đ t mà bà H bị nhà nước thu hồi, giải tỏa ó diện tí h là 14,3m2 và bà H thừa nhận

đã nhận số tiền bồi thường hỗ trợ trên phần diện tí h đ t bị thu hồi này là 28.819.318 đồng và đã tháo dỡ trả lại mặt bằng trống ho nhà nướ để thực hiện dự án nâng p đô thị. Như vậy, phần diện tí h mà bà N cho bà H sau khi trừ đi phần đ t bị giải tỏa chỉ òn lại là 17,2m2

Xét th y, Bản án sơ thẩm đã ăn ứ vào á hứng cứ nêu trên để ch p nhận

một phần yêu ầu khởi kiện của nguyên đơn buộc Bà B ó nghĩa vụ giao trả cho bà H 17,2m2 là ó ăn ứ đúng pháp luật. Xét, kháng áo ủa bà H cho rằng phần đ t của bà H được bà N tặng cho bị ảnh hưởng bởi Quyết định thu hồi đ t để mở rộng hẻm chỉ là 3,5m x 2,8m= 9,8m2 chứ không phải là 14,3m2 ho toàn bộ diện tí h đ t được bồi thường nên bà H đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng buộc Bà B giao trả cho bà H 21,7m2 thuộc một phần thửa 61, tờ bản đồ số 14 (BĐĐC), Phường T, Quận S, Thành phố H. Xét lý do này là do bà H tự nêu ra, không ó ăn ứ pháp lý hợp pháp nào xá nhận phần diện tí h đ t bị thu hồi là 9,8m2 nên Hội đồng xét xử không h p nhận phần yêu ầu kháng áo này ủa bà H.

Xét th y, trong đơn khởi kiện bà H òn ó yêu ầu buộc Bà B phải tháo dỡ

hàng rào trả lại hiện trạng đ t trống cho bà H nhưng p sơ thẩm lại không tuyên buộc Bà B phải tháo dỡ hàng rào là thiếu sót hưa đảm bảo quyền và lợi í h hợp pháp ủa bà H. Để khắc phụ á thiếu sót này ủa c p sơ thẩm Hội đồng xét xử phú thẩm th y cần phải bổ sung nội dung buộc Bà B phải tháo dỡ hàng rào hắn trên phần diện tí h đ t phải giao trả cho bà H như đã nêu trên ho phù hợp.

Xét th y, trong phần nội dung quyết định về án phí dân sự sơ thẩm. Tòa án

buộ bà La Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.058.880 đồng là hưa đúng hưa đảm bảo quyền và lợi í h hợp pháp ủa Bà B vì Bà B là người trên 60 tuổi nên theo quy định tại Điều 2, Điều 4 Luật Người cao tuổi thì Bà B được miễn án phí dân sự sơ thẩm do đó ần phải sửa lại về phần án phí này.

Từ những phân tí h nêu trên Hội đồng xét xử không h p nhận kháng áo ủa

nguyên đơn bà La Thị H. Xét, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm.

Án phí dân sự phú thẩm:

Do sửa án sơ thẩm nên bà La Thị H không phải hịu án phí dân sự phú theo

quy định. Hoàn lại bà H số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phú thẩm theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn ứ điểm b Khoản 1 Điều 38, Điều 148, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1

Điều 228, Điều 298, Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn ứ luật Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009 ó hiệu lự ngày

01/7/2010;

Căn ứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ủa Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng

án phí và lệ phí Tòa án;

Căn ứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).

1. Không h p nhận kháng áo ủa nguyên đơn bà La Thị H.

2. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 178/2022/DS-ST ngày 07 tháng 9

năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận S Thành phố H.

2.1. Ch p nhận một phần yêu ầu khởi kiện của nguyên đơn là bà La Thị H:

Buộ bà La Thị B ó nghĩa vụ giao lại ho bà La Thị H phần đ t ó diện tí h

17,20m2 thuộc thửa số 61, tờ bản đồ số 14 bộ địa hính Phường T, Quận S, Thành

phố H (tại địa chỉ số 231/27A - số mới: 231/73B đường B, Phường T, Quận S). Có

vị trí ụ thể như sau: Chiều ngang 3.50m tính từ điểm tiếp giáp với nhà số 69/14

Đường V, Phường T, Quận S đến giáp ranh phần ngõ vào nhà bà La Thị B (BK 29,

61 tờ bản đồ thứ 14 bộ địa hính Phường T, Quận S); chiều dài 4,90m tính từ điểm

giáp hẻm 231 B, Phường T, Quận S trở vào giáp đ t nhà bà La Thị B. Đồng thời Bà

B phải tháo dỡ toàn bộ vật dụng ra khỏi phần diện tí h đ t nêu trên ngay khi giao

đ t cho bà H.

Bà La Thị H ó quyền liên hệ với á ơ quan ó thẩm quyền để thực hiện

thủ tụ đăng ký quyền sử dụng đ t theo quy định.

2.2. Không h p nhận một phần yêu ầu khởi kiện của bà La Thị H về việc

yêu ầu bà La Thị B phải giao cho bà H diện tí h đ t 12,3 m2 thuộc thửa số 61, tờ

bản đồ số 14 bộ địa hính Phường T, Quận S, Thành phố H (tại địa chỉ số 231/27A-

số mới: 231/73B đường B, Phường T, Quận S).

2.3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà La Thị B được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định;

Bà La Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.047.920 đồng, được kh u

trừ số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số

0010235 ngày 27/5/2020 tại Chi cụ Thi hành án dân sự Quận S, Thành phố H. Bà

La Thị H òn phải nộp số tiền án phí là 4.747.920 (bốn triệu bảy trăm bốn mươi

bảy nghìn hín trăm hai mươi) đồng.

Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng, nguyên đơn tự nguyện

chịu. Ghi nhận đã nộp xong.

3. Án phí dân sự phú thẩm:

Bà La Thi Hương không phải chịu án phí dân sự phú thẩm. Hoàn trả cho

bà H 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án đã đóng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0012411 do Chi cục Thi hành án dân sự Quận S lập ngày 26/9/2022.

4. Trường hợp bản án, quyết định thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người đượ thi hành án, người phải thi hành án dân sự ó quyền thỏa thuận thi hành án, yêu ầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị ưỡng chế thi hành án theo quy định tại á Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

5. Bản án phú thẩm ó hiệu lự pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ