vanban.org

Bản án 02/2022/TCDS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 25/05/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam buộc anh Phạm Ngọc Ch phải trả cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam

( tên viết tắt VIB) số tiền: 266.087.979đ số tiền nợ gốc: 229.520.869 đồng; nợ lãi là: 8.381.186đ; lãi quá hạn: 28.185.924đ Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày 26/5/2022 anh Phạm Ngọc Ch còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 9693941.21 ngày 1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam buộc anh Phạm Ngọc Ch phải trả cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam
  • Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN MÔ
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2022/TCDS-ST
Ngày 25 tháng 5 năm 2022.
V/v tranh chấp hợp đồng
Tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Hà Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Phạm Văn Ký

2. Bà: Trần Thị Mão

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Xuân Ngọc – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô: Bà Giang Thị Quỳnh Loan, kiểm sát viên, viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

Ngày 25 tháng 5 năm 2022 tại phòng xét xử. Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2021/TLST- DS ngày 09 tháng 11 năm 2021, tranh chấp về “ hợp đồng tín dụng ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐXX-ST ngày 08 tháng 3 năm 2022; quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2022/QĐST – DS ngày 08/4/2022; Quyết định ngừng phiên tòa số 01/2022/QĐST ngày 29/4/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam ( tên viết tắt VIB)

Trụ sở: Tầng 1 tòa nhà Sailing số 111A, Pasteur, phường Bến Nghé, quận 1 thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc Vũ – chức vụ Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền ông Trần Thành Công – chức vụ Giám đốc THN trực tiếp XLN, địa chỉ Tầng M, tòa nhà Hồng Hà, số 25 Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; người đại diện theo ủy quyền ông Hoàng Tuấn Khải, cán bộ Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam ( văn bản ủy quyền số 5826521 ngày 12/08/2021; ông Quách Văn Tây, cán bộ Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam ( văn bản ủy quyền số 017008.22 ngày 04/03/2022) có mặt.

2. Bị đơn: Anh Phạm Ngọc Ch, sinh năm 2000, trú tại xóm 1, Đông S, xã Y M, huyện Y M, tỉnh N B (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 8 năm 2021, lời khai trong quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam ( tên viết tắt VIB) CN Đống Đa có ký hợp đồng tín dụng với anh Phạm Ngọc Ch, HĐ tín dụng số 9693941.21 ngày 18/02/2021 số tiền 239.000.000 đồng để giải ngân thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Morming; thời hạn vay 96 tháng kể từ ngày 19/02/2021 đến ngày 18/02/2029. Lãi suất theo thỏa thuận tại thời điểm ký kết là 9,1% năm. Trong hợp đồng có thỏa thuận về việc điều chỉnh lại 3 tháng 1 lần bằng lãi suất cơ bản theo quy định của VIB tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) theo biên độ 4,5% năm và chỉ được áp dụng trong vòng 03 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân; Hoàn trả khoản vay gốc hàng tháng vào ngày 25( mỗi tháng trả 2.498.583 đồng số còn lại trả vào cuối kỳ, ngày trả nợ đầu tiên vào ngày 25/02/2021. Hoàn trả lãi hàng tháng vào ngày 25 hàng tháng theo dư nợ thực tế; Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.

Quá trình thực hiện hợp đồng anh Phạm Ngọc Ch mới thực hiện được việc trả nợ cho VIB số tiền 11.564.652 trong đó (gốc 9.479.131 đồng và tiền lãi 2.085.521 đồng)

Tính đến ngày 25 tháng 5 năm 2022 anh Phạm Ngọc Ch còn nợ ngân hàng VIB số tiền nợ gốc: 229.520.869 đồng; nợ lãi là: 8.381.186 đồng; lãi quá hạn: 28.185.924 đồng. Tổng số tiền anh Ch phải trả 266.087.979đ

Nay ngân hàng VIB đề nghị buộc anh Ch phải thanh toán cho ngân hàng số tiền: 266.087.979đ (Hai trăm sáu mươi sáu triệu không trăm tám mươi bẩy nghìn chín trăm bẩy chín đồng)

Sau khi nhận thông báo thụ lý vụ án, anh Phạm Ngọc Ch có bản tự khai ngày 18/11/2021 mặc dù bản tự khai anh Ch không ký, nhưng anh Ch lại ký vào biên bản giao nhận giữa anh Ch với Tòa án về việc giao nộp bản tự khai ngày 18/11/2021. Tại bản tự khai anh Ch xác nhận vào tháng 2 năm 2021 anh có ký hợp đồng vay tiền với ngân hàng VIB để giải ngân cho khoản tiền anh mua ô tô Kia morning, anh mới trả được ngân hàng số tiền 11.564.652 đồng, nay anh còn nợ ngân hàng với số nợ gốc: 229.520.869đ và tiền nợ lãi 7.354.494đ; tiền lãi quá hạn là 219.665đ cam kết đến tháng 11/2021 sẽ có trách nhiệm trả cả gốc và lãi cho ngân hàng, nếu sai anh chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật

Tuy nhiên sau đó anh Ch không có mặt tại địa phương, anh Ch đi đâu làm gì thì gia đình không biết. Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh Ch không có mặt theo giấy triệu tập, nên việc giải quyết vụ án gặp nhiều khó khăn. Theo quy định của pháp luật Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về việc chấp hành của Thành viên hội đồng xét xử, thư ký tòa án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa; việc xác định tư cách của người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ các Điều 116; Điều 117 khoản 2 Điều 357, Điều 463; 465; 466; 468 Bộ luật dân sự; Điều 92; Điều 227; Điều 228; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 92 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016/ UBTVQH ngày 30-12 - 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam buộc anh Phạm Ngọc Ch phải trả cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam ( tên viết tắt VIB) số tiền: 266.087.979đ số tiền nợ gốc: 229.520.869 đồng; nợ lãi là: 8.381.186; lãi quá hạn: 28.185.924đ

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại HĐ tín dụng số 9693941.21 ngày 18/02/2021.

Về án phí: Anh Phạm Ngọc Ch phải chịu án phí dân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam không phải chịu án phí, hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam số tiền 5.900.000đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0006234 ngày 09/11/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ tại phiên hòa giải và công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Yên Mô nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay dùng vào việc tiêu dùng được quy định tại khoản 3 điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh Phạm Ngọc Ch không hợp tác, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Tòa án đã hoãn phiên tòa vì sự vắng mặt của bị đơn. Theo quy định của pháp luật bị đơn vắng mặt lần 2 không có lý do Tòa án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử, khi vắng mặt của các đương sự. căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Quan hệ về việc Ngân hàng cho anh Phạm Ngọc Ch vay khoản tiền 239.000.000đ để giải ngân tiền mua xe ô tô. Đây là quan hệ dân sự về việc vay tiền để thanh toán hợp đồng mua bán tài sản (xe ô tô). Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng phía ngân hàng TMCP đã thực hiện đúng như hợp đồng đã ký, giải ngân khoản tiền để trả cho việc mua ô tô của anh Chiến.

Việc nguyên đơn Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (tên viết tắt VIB) có quyền khởi kiện buộc anh Phạm Ngọc Ch phải thanh toán khoản tiền đã vay theo đồng tín dụng số 9693941.21 ngày 18/02/2021 số tiền 239.00.000 đồng để anh Phạm Ngọc Ch giải ngân thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Moming; thời hạn vay 96 tháng kể từ ngày 19/02/2021 đến ngày 18/02/2029. Lãi suất theo thỏa thuận tại thời điểm ký kết là 9,1% năm. Trong hợp đồng có thỏa thuận về việc điều chỉnh lại 3 tháng 1 lần bằng lãi suất cơ bản theo quy định của VIB tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) theo biên độ 4,5% năm; Hoàn trả khoản vay gốc hàng tháng vào ngày 25 (mỗi tháng trả 2.498.583 đồng số còn lại trả vào cuối kỳ, ngày trả nợ đầu tiên vào ngày 25/02/2021. Hoàn trả lãi hàng tháng vào ngày 25 theo dư nợ thực tế; Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.

Quá trình thực hiện hợp đồng anh Phạm Ngọc Ch mới thực hiện được việc trả nợ cho VIB số tiền 11.564.652 trong đó (gốc 9.479.131đồng và tiền lãi 2.085.521 đồng)

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc anh Phạm Ngọc Ch tính đến ngày 25.5.2022 anh Ch phải trả cho ngân hàng số tiền là 266.087.979đ số tiền nợ gốc: 229.520.869 đồng; nợ lãi là: 8.391.186đ; lãi quá hạn: 28.185.924đ

Xét thấy thỏa thuận của các bên trong hợp đồng là phù hợp với quy định tại điều 306 Luật thương mại và phù hợp với quy định của pháp luật, do đó cần chấp nhận buộc anh Phạm Ngọc Chiến phải chịu khoản tiền lãi theo thỏa thuận là 9,1% năm. Trong hợp đồng có thỏa thuận về việc điều chỉnh lại 3 tháng 1 lần bằng lãi suất cơ bản theo quy định của VIB tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) theo biên độ 4,5% năm, và lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự nên chấp nhận đề nghị của nguyên đơn.

Đối với tài sản bảo đảm: Ngân hàng không yêu cầu về việc xem xét tài sản đảm bảo là chiếc xe ô tô mà ngân hàng đã giải ngân do đó Hội đồng xét xử không xem xét đến tài sản bảo đảm.

Về án phí. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí. Bị đơn anh Phạm Ngọc Ch phải chịu án dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật được quy định tại khoản 2 điều 26 của Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30-12 - 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 116; Điều 117; Điều 463; điều 465; điều 466; điều 468; khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 92 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016/ UBTVQH ngày 30-12 - 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam buộc anh Phạm Ngọc Ch phải trả cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam

( tên viết tắt VIB) số tiền: 266.087.979đ số tiền nợ gốc: 229.520.869 đồng; nợ lãi là: 8.381.186đ; lãi quá hạn: 28.185.924đ

Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày 26/5/2022 anh Phạm Ngọc Ch còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 9693941.21 ngày 18/02/2021, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn (Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội Đồng Thẩm phán)

2 . Về án phí:

+ Anh Phạm Ngọc Ch phải chịu án phí dân sơ thẩm là 13.300.000 đồng (Mười ba triệu ba trăm nghìn đồng chẵn)

+ Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam không phải chịu án phí, hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam số tiền 5.900.000đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0006234 ngày 09/11/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án; người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ