vanban.org

Bản án 02/2022/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng E .

Buộc ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng E số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 1703-LAV-201102633 ngày 27/10/2011 tổng số tiền tính đến ngày 12/01/2022 là 1.749.512.500 đồng (trong đó Nợ gốc: 600.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 68.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "NH E KHỞI KIỆN ÔNG H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng E .
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 02 /2022/KDTM-ST
Ngày: 12/01/2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
và xử lý tài sản bảo đảm

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Đăng Khoa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Luận

Bà Nguyễn Thị Hà

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương - Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 30/2021/TLST- KDTM ngày 11/10/2021 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản bảo đảm theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2021/QĐST - KDTM ngày 14/12/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2021/QĐST-KDTM ngày 30/12/2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng E; Trụ sở: Tầng 8, văn phòng số L8-01-11+16 Toà nhà V, số 72, L, phường B, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh; Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Tấn L - Chức vụ Tổng giám đốc; Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị H.( có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Khánh H1, sinh năm 1983 - Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1; địa chỉ: Đội 14, Y, xã Đ, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.( vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Khánh H1, sinh năm 1983; bà Đàm Thị T, sinh năm 1986; Cháu Nguyễn Khánh H, sinh ngày 15/12/2005; Cháu Nguyễn Đàm TH, sinh ngày 12/8/2007 (con ông Nguyễn Khánh H1).( vắng mặt); Cùng địa chỉ: Thôn Y, xã Đ, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai - Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn- trình bày:

Ngân hàng E và Ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 1703-LAV-201102633 ngày 27/10/2011, với nội dung cụ thể:

- Số tiền vay: 600.000.000 đồng

- Mục đích vay: thanh toán tiền thu mua sản phẩm mây tre đan xuất khẩu

- Thời hạn vay: 12 tháng

- Lãi suất vay: 22,3%/năm

Tài sản bảo đảm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 256, tờ bản đồ số 06, tại địa chỉ thôn Y, xã Đ, huyện Chương Mỹ, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 458975 do UBND huyện Chương Mỹ cấp ngày 18/9/2009 cho ông Nguyễn Khánh H1, bà Đàm Thị T.

Ngân hàng E khởi kiện Ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 ra trước Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ – thành phố Hà Nội, đề nghị giải quyết các vấn đề sau:

- Buộc Ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 phải trả cho EXIMBANK số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 1703-LAV-201102633 ngày 27/10/2011, tổng số tiền tính đến ngày 30/12/2021 là 1.745.612.500 đồng (trong đó Nợ gốc: 600.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 68.825.000 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.076.787..500 đồng).

Tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 31/12/2021 cho đến khi Ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 thanh toán xong nợ cho Eximbank theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng.

- Trong trường hợp Ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản thế chấp cho khoản vay để xử lý, thu hồi nợ cụ thể: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 256, tờ bản đồ số 06, tại địa chỉ thôn Y, xã Đ, huyện Chương Mỹ, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 458975 do UBND huyện Chương Mỹ cấp ngày 18/9/2009 cho ông Nguyễn Khánh H1, bà Đàm Thị T.

- Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì đề nghị Tòa án tuyên Ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 phải có nghĩa vụ trả hết nợ.

Bị đơn ông Nguyễn Khánh H1 trình bày:

Ông H xác nhận ông đã ký kết Hợp đồng tín dụng năm 2011 vay số tiền 600.000.000 đồng với Ngân hàng E.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 256, tờ bản đồ số 06, tại địa chỉ thôn Y, xã Đ, huyện Chương Mỹ, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 458975 do UBND huyện Chương Mỹ cấp ngày 18/9/2009 cho ông Nguyễn Khánh H1, bà Đàm Thị T.

Nay Ngân hàng khởi kiện, ông H xin trả gốc.

Tại phiên tòa, Ngân hàng E yêu cầu ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 phải trả Ngân hàng E số tiền còn nợ tính đến ngày 12/01/2022 là 1.749.512.500 đồng (trong đó Nợ gốc: 600.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 68.825.000 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.080.687.500 đồng).

Buộc ông Nguyễn Khánh H1 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc kể từ ngày 13/01/2022 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng.

Trường hợp ông Nguyễn Khánh H1 không trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Chương Mỹ thể hiện quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng E, buộc Ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 phải thanh toán trả Ngân hàng E theo Hợp đồng tín dụng số tiền còn nợ tính đến ngày 12/01/2022 là 1.749.512.500 đồng (trong đó Nợ gốc: 600.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 68.825.000 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.080.687.500 đồng).

Buộc Ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi kể từ ngày 13/01/2022 đối với số tiền nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng.

Trường hợp Ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 không trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

. Về thẩm quyền: Ngân hàng E có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ đối với ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1. Hiện ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 có HKTT tại Thôn Y, xã Đ, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Về áp dụng luật nội dung: Thời điểm giao kết Hợp đồng tín dụng là ngày 27/10/2011, nên cần phải áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 để giải quyết tranh chấp.

. Về sự vắng mặt của bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt không có lý do. Toà án xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về nội dung:

. Xét tính pháp lý của Hợp đồng tín dụng.

Ngân hàng E đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 1703-LAV-201102633 ngày 27/10/2011 với ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1.

Xét tính pháp lý của Hợp đồng tín dụng trên được các bên cùng xác nhận ký kết trên cơ sở tự nguyện, có hình thức và nội dung phù hợp với các Điều 290, 343, 474 Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng nên có hiệu lực thi hành.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay – ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 đã nhận đủ tiền vay nhưng vi phạm điều khoản cam kết về thời hạn trả nợ tiền vay nên Ngân hàng E yêu cầu ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc, tiền lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng là phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Đây là căn cứ pháp lý buộc bên vay là ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 phải có nghĩa vụ trả Ngân hàng E số tiền còn nợ Hợp đồng tín dụng số 1703-LAV-201102633 ngày 27/10/2011 tính đến ngày ngày 12/01/2022 là 1.749.512.500 đồng (trong đó Nợ gốc: 600.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 68.825.000 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.080.687.500 đồng).

Ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi kể từ ngày 13/01/2022 đối với tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán xong, theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng.

. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của Hợp đồng tín dụng:

Biện pháp bảo đảm được thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp số công chứng: 11920.2011/HĐTC, quyển số 08.TP/CC-SCC/HĐTD ngày 27/10/2011 tại Văn phòng công chứng Miền Bắc và được Đăng ký GDBĐ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Chương Mỹ, Tp. Hà Nội ngày 13/8/2010.

Tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 256, tờ bản đồ số 06, tại địa chỉ thôn Y, xã Đ, huyện Chương Mỹ, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 458975 do UBND huyện Chương Mỹ cấp ngày 18/9/2009 cho ông Nguyễn Khánh H1, bà Đàm Thị T.

Hợp đồng thế chấp được các bên ký kết và công chứng tại Văn phòng công chứng Hà Đông là đúng quy định tại Điều 343 Bộ luật dân sự năm 2005 về “Hình thức thế chấp tài sản”, Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 về “quyền thế chấp quyền sử dụng đất” và Điều 168 Luật Đất đai năm 2013 về “ Thời điểm thực hiện các quyền của người sử dụng đất”. Do đó thoả thuận trong Hợp đồng thế chấp tài sản đã ký giữa các bên có hiệu lực pháp luật để thi hành. Yêu cầu của phía nguyên đơn đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp phía bị đơn không trả được các khoản nợ là có căn cứ để chấp nhận.

.Về nghĩa vụ chịu án phí:

- Bị đơn Ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 phải nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với số tiền phải trả là 64.485.375 đồng.

- Hoàn trả Ngân hàng E tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điều 290,343, 474 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 167, 168 Luật Đất đai năm 2013; Điều 91, 95,98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26,điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 điều 147, điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng E .

2. Buộc ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng E số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 1703-LAV-201102633 ngày 27/10/2011 tổng số tiền tính đến ngày 12/01/2022 là 1.749.512.500 đồng (trong đó Nợ gốc: 600.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 68.825.000 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.080.687.500 đồng).

Ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh đối với số tiền nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 1703-LAV-201102633 ngày 27/10/2011 kể từ ngày 13/01/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản gốc.

3. Trong trường hợp ông Nguyễn Khánh H1 – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Khánh H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng E có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 256, tờ bản đồ số 06, tại địa chỉ thôn Y, xã Đ, huyện Chương Mỹ, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 458975 do UBND huyện Chương Mỹ cấp ngày 18/9/2009 cho ông Nguyễn Khánh H1, bà Đàm Thị T.

Nếu giá trị tài sản bảo đảm phát mại không thu hồi đủ nợ thì ông Nguyễn Khánh H1 tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho Eximbank cho đến khi trả nợ xong theo đúng hợp đồng tín dụng đã ký.

5. Án phí: Ông Nguyễn Khánh H1 phải nộp 64.485.375 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn trả Ngân hàng E số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 30.000.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0075364 ngày 05/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm; Người đại diện của nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. N¬i nhËn:

Cỡ chữ